Blade Runner (1982): Kẻ vĩ đại bị lãng quên

blade-runner-13828

Author: Funkyjeff77

Dịch: Bobby

Nguồn: idesign.vn

 

A. Tóm tắt bối cảnh của tiểu thuyết

Thành phố Los Angeles, tháng 11 năm 2019 – Thời kỳ hậu tận thế tương lai, là một đô thị metropolis với những kiến trúc kim tự tháp được thống trị bởi tập đoàn Tyrell. Bao trùm bởi sự tối tăm và những cơn mưa ảm đạm, đám đông rệu rã đang cầu mong chuyển đến hành tinh khác, một thuộc địa ngoài Trái Đất. Hành tinh họ đang sống bị tàn phá nặng nề, động vật đứng bên bờ tuyệt chủng bởi chiến tranh hạt nhân và những cơn mưa phóng xạ trong suốt Thế chiến Terminus. Con người và quần thể trên hành tinh đang bị hoạ diệt vong từ cơn mưa phóng xạ của cuộc chiến.Đây là một viễn cảnh vị lai (futuristic) được viết ra bởi trí tưởng tượng của tiểu thuyết gia Philip K. Dick – Nhà văn chuyên viết truyện thể loại khoa học-viễn tưởng. Tư tưởng của ông chịu nhiều ảnh hưởng từ George Orwell, Carl Sagan, Arthur C. Clarke và Isaac Asimov.

Sứ mệnh của Deckard (lực lượng cảnh sát chuyên tiêu diệt những người máy trốn thoát về Trái Đất) đồng thời của cuốn tiểu thuyết khai thác vấn đề muôn thuở: Bản chất con người là gì? Giữa con người và người máy có gì khác nhau? Câu trả lời chính là cảm xúc. Về cơ bản, tác phẩm của tiểu thuyết gia đã cho thấy được sự khác nhau giữa con người và người máy.

Harrison Ford trong vai Rick Deckard.

 

Bối cảnh câu chuyện trong tiểu thuyết xoay quanh vịnh San Francisco, một trong những nơi cuối cùng ảnh hưởng bởi bụi phóng xạ, đặc biệt là từ vùng bán đảo cho đến phía Nam. Các người máy Replicant được chuyên dùng để khai thác, đánh chiếm các hành tinh làm thuộc địa (thuộc địa được nhắc đến trong sách là Mars). Nhưng nhiều trong số Replicant đó không chịu được sự cô lập lẫn bị con người bức ép lao động nên đã trốn về Trái Đất. Những người cảnh sát như Rick Deckard có nhiệm vụ đi săn lùng và tiêu diệt các Replicant trốn thoát. Lực lượng cảnh sát này sẽ đi thu thập và phân tích những xác chết được cho là “andys” hay còn gọi là người nhân bản Replicant.Thế hệ người máy trước vì trí thông minh hạn chế nên dễ dàng bị cảnh sát truy lùng. Sự phát triển công nghệ, cải thiện cho thế hệ người máy đời sau đã gây khó khăn cho cảnh sát. Lực lượng săn tìm phải áp dụng bài kiểm tra Voigt-Kampff. Bằng cách đặt câu hỏi và dựa trên khả năng đồng cảm, bài kiểm tra sẽ phân biệt đâu là người thật với người nhân bản. Thông thường vì Replicant không có nhiều sự đồng cảm nên họ sẽ không trả lời được hay trả lời chậm hơn so với con người thật.

Thiết bị dùng cho bài kiểu tra Voigt-Kampff.

Người nhân bản bị cấm đến Trái Đất, các Replicant như đã đề cập trên được con người sử dụng cho việc khai thác và chiến tranh vũ trụ. Nhưng có những Repicant chống lại lệnh cấm, trốn thoát về Trái Đất và họ bị truy lùng bởi “Blade Runners”. Cốt truyện tập trung vào cảnh chạm trán giữa Replicant và Blade Runner. Đại diện cho các Blade Runner là Rick Deckard (Harrison Ford thủ vai trên phiên bản điện ảnh), người nhận nhiệm vụ truy lùng người nhân bản.

idesign bladerunner

Xe bay và khung cảnh metropolis điển hình trong “Blade Runner”.

 

B. Philip K. Dick và Ridley Scott: Từ tiểu thuyết đến màn ảnh

Hầu hết các tác gia về thể loại viễn tưởng đều có nhiều ý tưởng sáng tạo mới nhưng Dick lại có một sự khác biệt, đó là tầm nhìn. Tầm nhìn tương lai của ông trong tiểu thuyết có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến nỗi nó là niềm cảm hứng cho công ty Uber. Đa số các tiểu thuyết viễn tưởng của Dick đều chứa đựng tầm nhìn về tương lai và những câu hỏi chủ đề mang nhiều tính triết học: “Thực tại là gì?” và “Con người là gì?”. Cũng như nhiều người khác đã làm bao gồm cả bản thân Dick, các tác phẩm chỉ mới chạm đến bề mặt của vấn đề mà ông đề cập đến. Để thực sự thấu hiểu tầm nhìn của ông, chúng ta hãy cùng phân tích thêm.Được chuyển thể từ tiểu thuyết viễn tưởng “Do androids dream of electric sheep?” (Người máy có mơ về cừu máy?), bộ phim “Blade Runner” được đạo diễn bởi Ridley Scott và phim ra mắt công chúng năm 1982.

Trái ngược với sự kỳ vọng trở thành bộ phim “bom tấn”, “Blade Runner” thất bại thảm hại. Phim không được nhiều fan hâm mộ chào đón mặc dù được đánh giá cao về mặt thẩm mỹ, sử dụng nhiều kỹ xảo tiên tiến. Mãi cho đến gần đây, qua nhiều phiên bản làm lại, bộ phim mới được công nhận vào hàng “cult classic” – kiểu phim độc đáo, phim thiêng sở hữu những cách thể hiện và tư tưởng mới lạ so với thời đại.“Blade Runner” thuộc thể loại neo-noir (những phim có xu hướng triết lý phức tạp, đòi hỏi người xem phải suy nghĩ nhiều).

Đây cũng là tiểu thuyết giúp Philip K. Dick gây được sự chú ý của Hollywood và mở ra xu hướng tiểu thuyết chuyển thể cho các tác phẩm sau này của ông. Đáng chú ý là Minority Report (2002) và Total Recall (1990). Đạo diễn Ridley Scott kỳ vọng khá nhiều về “Blade Runner”, ông coi nó như là một dự án cá nhân của riêng mình. Có lẽ chính vì vậy, ông liên tục “làm lại” bộ phim nhiều lần để có thể đến gần với khán giả hơn. Năm 1993, “Blade Runner” được Viện phim Mỹ được chọn để lưu giữ vào Thư viện Quốc hội vì giá trị “văn hoá, lịch sử, và thành tựu về thẩm mỹ”.

idesign bladerunner 2

Đạo diễn Ridley Scott và Harrison Ford trên phim trường.

 

Ban đầu, nhân vật chính Rick Deckard không phải do Harrison Ford thủ vai. Thay vào đó là những nam diễn viên nổi tiếng khác được chọn như Gene Hackman, Sean Connery, Jack Nicholson, Paul Newman, Clint Eastwood, Tommy Lee Jones, Arnold Schwarzenegger, Al Pacino, và Burt Reynolds. Vai thủ lĩnh người nhân bản Replicant – Roy Batty do Rutger Hauer thủ vai chính. Vai diễn như được “đo ni đóng giày” cho Rutger Huer và được chính nhà văn Dick khen ngợi “như bước từ tiểu thuyết ra”.Điều thú vị là mặc dù được thủ vai chính nhưng Harrison Ford không hào hứng nhiều với bộ phim lẫn vai diễn của ông.

Ngược lại, dấu ấn chính – “spotlight” của bộ phim thuộc về thủ lĩnh Replicant – Hauer. Làm sao một vai diễn người máy lại mang nhiều cảm xúc như con người trong khi Deckard, vai diễn người thật thì lại lạnh lùng, ít cảm xúc như thế?“Đây là một trong những câu hỏi tôi được hỏi nhiều nhất. Chuyện gì xảy ra nếu lực lượng Replicant lại mang tính ‘người’ hơn chính con người? Bạn có thể nói được sự khác nhau giữa họ? Tôi nghĩ là không. Có phải viễn cảnh của Pris, kỉ niệm đáng nhớ của cô, tất cả đặc tính này khiến cô là con người”, Rutger Hauer chia sẻ.

Điều gì khiến Pris rất “người”?

Mặc dù là người theo chủ nghĩa hoài nghi về những gì Hollywood đã làm trước kia, Dick vẫn khen ngợi thế giới mà đạo diễn Ridley Scott tạo ra trong phim chính xác như những gì ông tưởng tượng. Dick nói, “Khi thấy được phần hiệu ứng đặc biệt của Douglas Trumbull trong ‘Blade Runner’ trên kênh thời sự KNBC-TV, tôi nhận ra nó ngay tức thì. Nó đúng là thế giới mà tôi tạo ra. Họ tái hiện nó một cách hoàn hảo.” Ông đồng thời khen ngợi kịch bản phim “Sau khi tôi đọc kịch bản phim và đối chiếu với tiểu thuyết. Cả hai đều không quá khác nhau. Người đã đọc và yêu thích tiểu thuyết trước vẫn yên tâm thưởng thức được bộ phim. Người đã xem và yêu thích bộ phim trước sẽ vẫn thích thú khi đọc sách.” Tiếc thay, chưa nhận được sự danh tiếng nào thì ông đã qua đời vài tuần trước khi bộ phim ra mắt năm 1982.

CChủ đề, bầu không khí chủ đạo trong phim

Mọi người thường hỏi tôi “Vì sao ‘Blade Runner’ là bộ phim yêu thích nhất mọi thời đại?” Có nhiều lý do tôi chọn “Blade Runner” là bộ phim “đỉnh” nhất. Đặc biệt phần nhạc phim của nhạc sĩ Hy Lạp Vangelis. Nó thể hiện đúng bầu không khí ảm đạm, u tối mà bộ phim muốn truyền tải. Đó là điều hiếm khi tôi thấy ở những bộ phim khác khi mà không khí trong phim không đóng vai trò chủ đạo.

Nét tăm tối được thể hiện qua kỹ thuật quay phim và “Blade Runner” mô phỏng gần như chính xác từ tiểu thuyết ra ngoài đời thực. Bằng cách sử dụng văn học, biểu tượng tôn giáo, chủ đề kịch nghệ cổ điển và phim noir, bộ phim nói về những tác động của công nghệ đối với môi trường và xã hội tương lai bằng cách tiếp cận quá khứ. Căng thẳng xung đột giữa quá khứ, hiện tại và tương lai được thể hiện rõ nét trong “Blade Runner”, khi công nghệ cao ngự trị nhiều nơi ngoại trừ Trái Đất suy tàn và già cỗi.

idesign blade runner 1982 06

Viễn cảnh thế giới tương lai ở năm 2019.

 

Hiện diện trong suốt bộ phim là cảm giác hoang mang và hoang tưởng rộng khắp thế giới: quyền lực của các tập đoàn, cảnh sát dường như ở khắp mọi nơi, xe và đèn theo dõi cùng với tiến bộ trong y sinh học cho phép ký ức con người được “cấy ghép” vào những Replicant.Môi trường được kiểm soát trên toàn khu vực rộng lớn, sự vắng mặt của nhiều đời sống tự nhiên, các loài động vật được tạo ra như những món đồ, hàng hoá trao đổi. Bối cảnh đầy áp bức này lý giải vì sao nhiều người rời khỏi Trái Đất để đi đến những hành tinh thuộc địa. Một dự đoán nổi tiếng thập niên 1980s là nền kinh tế Mỹ bị Nhật Bản vượt mặt cũng được đưa vào phim bằng những tình tiết như đô thị tràn ngập văn hoá Nhật Bản và quảng cáo của các tập toàn Nhật Bản ở L.A 2019.

Những điều này mang lại bầu không khí đặc trưng của “Blade Runner” với chủ đề nhân bản. Để lực lượng cảnh sát truy tìm các Replicant, họ sử dụng bài kiểm tra bằng những câu hỏi tập trung vào sự đồng cảm – chỉ số thể hiện tính “người” của một ai đó. Người nhân bản Replicant được đặt cạnh với con người trong một phép so sánh. Trong lúc Replicant dường như tỏ được lòng trắc ẩn và quan tâm lẫn nhau, thì con người lại như những giống loài vô cảm, không có nhân tính. Bộ phim vượt khỏi tư tưởng thời đại đến mức nhiều người tự vấn liệu cảnh sát Deckard có phải là người nhân bản và đồng thời buộc khán giả băn khoăn suy nghĩ về bản chất thật của con người…

 

D. Tính biểu tượng

Ý nghĩa của câu chuyện tập trung vào khai thác tính nhân bản của hai tuyến nhân vật: một bên là Deckard – con người thật đi tìm và diệt người nhân bản nhưng lại ngày càng trở nên mất nhân tính; và ngược lại, người nhân bản Replicant thì càng trở nên giống người hơn. Đến cuối cùng, Deckard phải tự hỏi bản thân mình đang làm cái gì và điều gì thực sự khác biệt giữa anh và Replicant.

Có những thuyết âm mưu cho rằng Deckard cũng chính là một Replicant.

E. Ảnh hưởng văn hoá

Tuy không thành công ở thị trường Bắc Mỹ tại thời điểm ra mắt nhưng sau đó, “Blade Runner” được công nhận rộng rãi và trở thành một trong những bộ phim “cult” kinh điển (phim độc đáo dành cho nhóm nhỏ). Phong cách u tối và xu hướng vị lai của phim trở thành chuẩn mực và ảnh hưởng đến nhiều bộ phim viễn tưởng sau này, không những điện ảnh mà còn anime, trò chơi điện tử và phim truyền hình. Ronald D. Moore và David Eick, nhà sản xuất “Battlestar Galatica” (Ngân hà đại chiến) đều thừa nhận họ lấy cảm hứng rất lớn từ “Blade Runner” cho tác phẩm của mình. Bên cạnh đó còn có “Ghost in the Shell” – bộ anime nổi tiếng vừa được làm lại với phiên bản người đóng của Hollywood cũng thừa hưởng không ít cảm hứng từ “Blade Runner”.

Phiên bản “Ghost in the Shell” người đóng với sự xuất hiện của Scarlett Johansson.

Phim được cân nhắc là một trong những bộ phim khoa học viễn tưởng hay nhất mọi thời đại và năm 2004 được bình chọn là bộ phim khoa học viễn tưởng xuất sắc nhất trong cuộc thăm dò với 60 nhà khoa học nổi tiếng thế giới. “Blade Runner” cũng được lựa chọn để lưu giữ trong Hội đồng lưu giữ phim quốc gia Hoa Kỳ năm 1993 và được đưa vào làm môn học ở nhiều trường Đại học.

Trong phim cũng hiện diện nhiều sản phẩm của những thương hiệu lớn đã trả tiền để được quảng cáo như Atari, Polaroid, Marlboro, Bell, Budweiser, Hilton, Citizen, Trans World Airlines.

Nhưng sau đó nhiều công ty đã phá sản (Atari) hoặc gặp nhiều trục trặc, thế nên người ta đồn rằng đó là do lời nguyền trong “Blade Runner”.

F. Sự khác biệt giữa tiểu thuyết và điện ảnh

  • Trong tiểu thuyết, con người và người nhân bản gần giống nhau nên rất khó phân định.
  • Trong tiểu thuyết, Rachael (Sean Young) và Pris (Daryl Hannah) nhìn giống hệt nhau vì Pris là phiên bản nhân đôi của Rachael.
  • Bộ phim chọn mốc thời gian năm 2019. Tiểu tuyết chọn mốc năm 1992.
  • Bối cảnh bộ phim diễn ra ở L.A. Tiểu thuyết diễn ra ở San Francisco.
  • Trong phim Deckard ly dị. Trong tiểu thuyết ông có người vợ tên Iran.

G. Dòng phim noir và cảm hứng từ “Metropolis” (1927) đối với “Blade Runner” (1982)

Về “Blade Runner” (1982)

Phim “đen” (noir) là thuật ngữ điện ảnh thường dùng để miêu tả những bộ phim có nội dung hành động – tội phạm trong thế giới ngầm của Hollywood. Một ví dụ điển hình cho thể loại này là “Matlese Falcon” (1941) và “Casablanca” (1942) do tài tử Humphrey Bogart thủ vai. “Blade Runner” là một phim noir theo đúng nghĩa của nó về cả phong cách lẫn chủ đề. Những phim noir thường có một đặc điểm dễ nhận ra là: bầu không khí u tối và ảm đạm.

Ánh sáng đóng vai trò chủ đạo và hiệu ứng ánh sáng “chiếu qua rèm cửa” (thường chỉ rọi đến một phần nhỏ trên khuôn mặt con người hoặc bề mặt vật thể) xuất hiện trong “Blade Runner” là chuẩn mực của phim noir.

Vài phân đoạn diễn ra trong nhà của Deckard, hiệu ứng này phần nào thể hiện tính cách đặc trưng của nhân vật.

Bộ phim sử dụng những quy ước của phim “đen” (noir) khi nhân vật chính trong “Blade Runner”, thám tử hay cảnh sát thường chìm vào sự ảo tưởng và nghiện rượu hay thuốc lá. Họ thường chạm trán với những “femme fatale”, nhân vật nữ xinh đẹp, quyến rũ và nguy hiểm, điển hình là Rachael. Harrison Ford khi đảm nhiệm vai Deckard ban đầu đã từ chối vì trong phim tuy ông không phải hút thuốc nhưng phải uống rất nhiều rượu. 

“Tượng đài” nhan sắc Rachael được dựng lại trong “Blade Runner 2049”.

Về “Metropolis” (1927)

Poster phim “Metropolis” (1927)

Không thể phủ nhận ảnh hưởng từ “Metropolis” (Thành phố tương lai) – cùng thuộc thể loại viễn tưởng của Fritz Lang đến đạo diễn Ridley Scott. Chủ đề xuyên suốt của “Blade Runner” và “Metropolis” là trả lời câu hỏi: Con người là gì?

Ngoài ra, có một sự khác nhau về tính cách nhân vật giữa hai tác phẩm. Trong phim của Lang, người nhân bản Futura là một sinh vật khát máu và thích hành hạ người khác thì Rachael (Blade Runner) lại có một tâm hồn cô độc. Johann Frederson – chúa tể Metropolis và Dr. Tyrell, cả hai đều cai trị đế chế công nghiệp khổng lồ của mình. Nhưng Tyrell cũng là người tạo ra giống người nhân bản Replicant, giống với Rotwang – nhà khoa học cuồng tín trong Metropolis.

Sự phân cách xã hội cũng là điểm chung giữa hai bộ phim, tầng lớp giàu có ở trên những toà nhà cao tầng còn tầng lớp lao động thì sống trong những khu ổ chuột.

“Metropolis” (1927).

“Metropolis” (1927).

Cách sử dụng ánh sáng và đặc biệt khung cảnh rộng lớn với những toà nhà, cỗ máy đã truyền tải đầy đủ khuynh hướng chủ nghĩa biểu hiện (Expressionism) về mặt kỹ thuật lẫn hình ảnh của cả hai bộ phim.

H. Tạm Kết

Được vinh danh là phim khoa học viễn tưởng hay nhất mọi thời đại. “Blade Runner” còn đi xa hơn một tuyên ngôn của “cult” để trở thành một bộ phim kinh điển mặc cho sự ra mắt thất bại năm 1982. Sức sáng tạo của bộ phim đã minh chứng cho sự tồn tại vượt thời gian của nó.

Cái gì làm con người trở nên ‘con người’? Khi giả sử ranh giới giữa trí tuệ nhân tạo và con người rất mong manh đến nỗi không ai có thể nói được sự khác biệt. Những chủ đề này được tái hiện ở trong “Matrix” (Ma trận) và “A.I” (Trí tuệ nhân tạo) nhưng không đi đến tận cùng như kiệt tác của Ridley Scott. Nhà phê bình phim nổi tiếng Roger Ebert nhận định: “Không thể phủ nhận, thế giới mà ‘Blade Runner’ tạo ra đã trở thành một trong những chuẩn mực nghệ thuật cho dòng phim hiện đại.”

Trường đoạn “nước mắt trong mưa” khiến người xem nhớ mãi – cũng là trường đoạn giúp bộ phim đi đến tận cùng của vấn đề.

Trải qua hơn 30 năm từ khi ra đời, “Blade Runner” vẫn là bộ phim khiến khán giả băn khoăn, suy ngẫm về tính nhân bản của con người, về một thế giới công nghệ phát triển tột bậc nhưng cũng chính vì nó mà con người thành những “cỗ máy” vô hồn.

 


 

Nguồn: Funkyjeff77
Dịch: Bobby

idesign.vn

4 comments

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s