Các cao thủ truyện kiếm hiệp Kim Dung trong lịch sử

thien long bat bo

1/ Kiều Phong: đại tướng nước Liêu

Theo Liêu sử, Tiêu Phong (1030-1065) là đại thần nhà Liêu, người Khiết Đan. Khi hoàng đế Liêu Đạo Tông (Gia Luật Hồng Cơ) lên ngôi, Tiêu Phong được phong Văn ban Thái bảo, rồi Đồng tri Khu mật viện sự.

Năm 1048, ông tham gia đánh dẹp bộ tộc Trở Bốc, năm sau phá được bộ tộc Địch Liệt. Sau đó, ông phát hiện và mật tấu âm mưu tạo phản của cha con Gia Luật Trùng Nguyên – thân tộc của vua.

Khi Trùng Nguyên dấy binh làm phản, Tiêu Phong tham gia khởi binh dẹp loạn, đuổi Trùng Nguyên về vùng sa mạc phía Bắc rồi bức phải tự sát.

Nhờ lập được đại công nên Tiêu Phong được phong làm Nam Viện đại vương. Năm 1065, Tiêu Phong bị bệnh chết, được vua Liêu Đạo Tông truy phong là Liêu Tây quận vương.

2/ Dương Quá: Bắn chết Mông Kha

Theo sử sách, Dương Quá (1236-1367) là tướng lĩnh cuối đời Nam Tống. Dương Quá đam mê võ nghệ, rất giỏi thuật xạ tiễn (bắn tên), trong quân được xưng là “Phi tướng quân”.

Năm 1259, khi quân Mông Cổ bao vây Hợp Châu, Dương Quá dùng tên bắn chết đại hãn Mông Kha khiến quân Mông đại bại, được phong Tương Dương thành thủ bị sứ.

Năm 1267, quân Mông Cổ lại bao vây Tương Phàn, Dương Quá quyết tử giữ thành và đã chết trong chiến trận.

4/ Khưu Xứ Cơ diện kiến Thành Cát Tư Hãn

Khưu Xứ Cơ (1148-1227), đạo hiệu Trường Xuân Tử, là người Sơn Đông – Trung Quốc ngày nay. Năm 18 tuổi, Khưu bái Vương Trùng Dương làm thầy, trở thành một trong Toàn Chân thất tử.

Khi Vương Trùng Dương mất, Khưu cư tang bên mộ thầy 3 năm, sau đó ẩn cư tu luyện 13 năm nữa rồi lập ra Long Môn phái, đồ đệ rất đông, nổi tiếng khắp nơi.

Khưu Xứ Cơ là người thông hiểu thời thế. Khi quân Mông Nguyên nổi lên chống triều Kim, theo triệu kiến của Thành Cát Tư Hãn, năm 1222, dù đã ngoài 70 tuổi nhưng ông vẫn dẫn 18 đệ tử vượt trên 10.000 dặm đường đến Tây Vực (nay là Afghanistan) yết kiến đại hãn. Thành Cát Tư Hãn rất kính trọng Khưu Xứ Cơ.

Nguyên sử chép: “Thái Tổ (tức Thành Cát Tư Hãn) Tây chinh, mỗi ngày thường bàn việc với Khưu Xứ Cơ. Hỏi về cách bình thiên hạ, đáp rằng phải giới hiếu sát. Hỏi về cái gốc trị nước, đáp rằng kính trời yêu dân…”.

Thành Cát Tư Hãn đãi ông rất hậu, tôn xưng là “Khưu thần tiên”, ban cho hổ phù, ngọc tỉ để chưởng quản tất cả những người xuất gia trong thiên hạ.

Năm 1224, Khưu Xứ Cơ trở về Yên Kinh (nay là Bắc Kinh), lập đạo quán Thái Cực, sau đổi thành Trường Xuân cung, là cơ quan trung tâm của Toàn Chân giáo. Lúc này, giáo đồ Toàn Chân giáo phủ kín miền Bắc Trung Quốc rồi lan về vùng Giang Nam.

Năm 1227, Khưu Xứ Cơ qua đời, 18 đệ tử của ông tiếp tục hành đạo, đưa Toàn Chân giáo phát triển đến giai đoạn cực thịnh.

Mãi đến đời Minh, Toàn Chân giáo mới mất chỗ đứng trong chính trường, dần dần suy thoái nhưng dòng chủ lưu vẫn chảy xuyên suốt trong dân gian đến nay.

4/ Võ lâm minh chủ Vương Trùng Dương

Vương Trùng Dương (1112-1170) tên thật là Trung Phu, người Hàm Dương – Kinh Triệu (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây). Vương xuất thân trong một gia đình giàu có, học hành tử tế, giỏi cả văn chương và võ nghệ, tính tình hào sảng, từng thi đậu cử nhân văn (có thuyết nói là tiến sĩ) và cử nhân võ. Năm 47 tuổi, do bất đắc chí chốn quan trường, ông khẳng khái từ quan.

Vương về quê ẩn cư chốn sơn lâm, học theo Lão Trang, suốt ngày uống rượu, hành vi phóng túng, ăn nói ngông cuồng, xưng là “Hại Phong” (gã khùng điên).

Do yêu mến ẩn sĩ Đào Uyên Minh (Đào Tiềm) đời Tấn nên ông đổi hiệu là Tri Minh, lại giống Đào Tiềm thích hoa cúc – mà cúc nở vào tiết trùng dương – nên lấy đạo hiệu Trùng Dương Tử.

Năm 1161, Vương Trùng Dương bỏ nhà cửa, lên núi Chung Nam đào một mộ huyệt và ở trong đó tu luyện, gọi là “Hoạt tử nhân mộ”, phía trên lập bia ghi Vương Hại Phong chi mộ – mộ của gã khùng điên họ Vương.

Năm 1167, ông đốt lều cỏ, cầm bình bát đi vân du hành đạo. Khi đến vùng Ninh Hải thuộc bán đảo Sơn Đông, Vương Trùng Dương lập am Toàn Chân, thu nạp 7 đại đệ tử đầu tiên của Toàn Chân giáo và gọi là Toàn Chân thất tử. Tín đồ theo ông rất đông, hình thành Bắc tông Đạo giáo, vị thế ngày càng lớn mạnh.

Vương Trùng Dương truyền đạo trong 3 năm rồi dẫn 4 đệ tử trở về Quan Trung, khi đến Khai Phong – Hà Nam thì chết. Các đệ tử an táng thầy ở núi Chung Nam, nay thuộc huyện Lư – Thiểm Tây. Nơi đây được xem là tổ đình của Toàn Chân giáo.

Vương Trùng Dương tài kiêm văn võ, xuất khẩu thành thơ, thường dùng thơ, từ làm phương tiện khuyến dụ, giảng đạo. Sau khi ông mất, các đệ tử sưu tập hơn 1.000 bài thơ, văn của thầy, soạn thành Toàn Chân tập. Ngoài ra, ông còn để lại Trùng Dương lập giáo thập ngũ luận, Trùng Dương giáo hóa tập, Phân lê thập hóa tập…

Vương Trùng Dương chủ trương tam giáo hợp nhất – Nho, Phật và Đạo bình đẳng, cho rằng “tam giáo xưa nay vốn một tổ”.

Vì thế, Toàn Chân giáo lấy ba bộ Hiếu kinh của Nho giáo, Bát nhã ba la mật đa tâm kinh của Phật giáo và Đạo đức kinh của Đạo giáo làm kinh điển bắt buộc phải học.

“Toàn chân” nghĩa là phải bảo toàn “tam bảo” – toàn tinh, toàn khí và toàn thần – không được để tư dục làm hư hao, tổn hại, từ đó mới trường sinh. Toàn Chân giáo yêu cầu mọi giáo đồ phải xuất gia học đạo, cực lực phản đối thuật ngoại đan (đan dược luyện từ kim loại, khoáng vật) và bùa chú; kế thừa thuật nội đan (đạo dẫn, hành khí, phục khí…).

Nguyên tắc hành đạo của Toàn Chân giáo là “khổ ta lợi người”, “lợi ta lợi người”, chú trọng hai chữ “thanh tĩnh”. Giáo phái này yêu cầu giáo đồ phải khắc kỷ nhẫn nhục, thanh tu khổ hạnh, ăn chay nằm đất, không vợ, không con…

Ảnh hưởng của Vương Trùng Dương và Toàn Chân giáo tại hai triều ngoại bang Kim và Nguyên rất lớn, được chính quyền lúc ấy hết sức ủng hộ.

Toàn Chân giáo được xem là quốc giáo, trung tâm hoạt động được đặt ở kinh đô Yên Kinh (nay là Bắc Kinh), còn Vương Trùng Dương được Nguyên Thế Tổ sắc phong là Trùng Dương Toàn Chân khai hóa chân quân năm 1269, sau đó, được gia phong là Trùng Dương Toàn Chân khai hóa phụ cực đế quân năm 1310, uy thế rất hiển hách.

5/ Hoàng Thường – tác giả Cửu Âm Chân Kinh

Theo Tống sử, Hoàng Thường (khoảng 1043 – 1130) là người Nam Bình – Phúc Kiến. Ông đỗ tiến sĩ đệ nhất đời Tống Thần Tông (1072), làm quan đến chức Đoan Minh điện đại học sĩ – Lễ Bộ thượng thư. Hoàng Thường ham thích đạo thuật, được vua Tống Huy Tông ủy thác phụ trách việc khắc in bộ Chính Hòa vạn thọ Đạo tạng trong 8 năm. Sau khi qua đời, Hoàng Thường được truy tặng hàm thái phó. Hoàng Thường giỏi về thi từ, “thơ văn tiêu sái, ngôn từ diễm lệ, như xuân thủy bích ngọc, khiến người ta mê say, thưởng thức không biết chán” – một học giả đời sau nhật xét.

Dựa vào Tống sử, nếu theo Kim Dung thì lúc được vua ủy thác trông coi khắc in Vạn thọ Đạo tạng, Hoàng Thường khoảng 70 tuổi, ngộ võ công khi đã 80 tuổi. Lại thêm hơn 40 năm nữa nghiên cứu võ học để viết thành Cửu âm chân kinh, như vậy Hoàng Thường thọ ngót 120 tuổi? Tuy nhiên, tiểu thuyết là tiểu thuyết, còn lịch sử là lịch sử.

Hoàng Thường ở vào đời Bắc Tống, trong giai đoạn chống quân Kim và Liêu, vì thế việc luyện tập võ nghệ là rất phổ biến. Hoàng Thường là quan chức cao cấp của triều đình, từng phụ trách khắc in bộ Vạn thọ Đạo tạng, lại có cơ hội tiếp xúc nhiều với các tướng lĩnh, nhân sĩ võ công cao cường. Như vậy, việc ông tập hợp các chiêu thức võ công tâm đắc để biên soạn thành bí kíp là việc rất có thể



nguồn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s