Đô đốc Lữ Mông- Bạch y độ giang, vạn cổ lưu phương

lu mong

Lữ Mông tên tự là Tử Minh sanh năm Quang Hòa 2 (179), mất năm Kiến An 25 (220), quê quán tại quận Nhữ Nam, nay thuộc địa giới huyện Phụ Nam, tỉnh An Huy; là Đại Đô đốc thứ ba của Đông Ngô hồi thời kì Tam quốc.

Trong Tam quốc còn có hai nhơn vật nổi tiếng trong tên tự có chữ Minh nữa là Quân sư Chư Cát Lượng của phe Thục và Tướng quân Từ Hoảng của phe Ngụy. Chữ “Lượng” có nghĩa là “rực rỡ”, lấy tự chữ Minh – Chư Cát Khổng Minh. Chữ “Hoảng” nghĩa là “sáng sủa”, lấy tự chữ Minh – Từ Công Minh. Hai ông nầy lấy tên tự theo kiểu cùng nghĩa, gần nghĩa. Còn Lữ Mông được ba má đặt tên chữ “Mông” với nghĩa “chổ u tối”, lớn lên ổng lấy tên tự Tử Minh với chữ “Minh” nghĩa “trong sáng”. Chữ Minh đối nghĩa, trái nghĩa chữ Mông, ổng lấy tên tự theo kiểu nầy vậy.

Theo sách vở xưa ghi lại, gia đình Lữ Mông hồi ông còn nhỏ thì rất nghèo, do thời cuộc chiến loạn nên gia đình ông đã dời về phía Nam sông Trường Giang sanh sống. Lữ Mông mồ côi cha từ rất sớm, nhưng từ năm ông mấy tuổi thì sách không nói rõ. Gia đình ổng có bao nhiêu người cũng hổng biết luôn, chỉ biết chắc là ông có một người chị gái được má ổng gả cho Đặng Đương – một vị tướng trẻ của Tôn Sách (Tôn Bá Phù) – chủ Đông Ngô.

1. Gia cảnh bần hàn nên âm thầm đăng lính

Do gia cảnh bần hàn nên Lữ Mông không có được đi học ngày nào, một chữ bẻ đôi hổng biết lại thêm tánh tình lỗ mãng nên vẫn thường bị mọi người trêu chọc là “Ngô hạ A Mông” (thằng Mông đất Ngô) vậy. Thành ngữ nầy được xài từ hồi Tam quốc mãi cho tới nay người ta vẫn còn xài để chỉ những nhơn vật “dốt đặc cán mai” như kiểu dân Nam Kì vẫn thường hay nói “thằng Bùi Kiệm” đó mà.

Lữ Mông rất yêu thương mẹ, tuy dốt chữ nhưng mà có chí lập thân. Năm mười sáu tuổi Lữ Mông lén gia đình “âm thầm” đăng lính để kiếm tiền nuôi mẹ. Mười sáu tuổi thì chưa đủ tuổi đăng lính nên Lữ Mông phải lấy tên họ giả để ghi danh. Ông được phân bổ làm lính dưới quyền của ông anh rể Đặng Đương và đã tham gia nhiều trận đánh đẫm máu với quân Sơn Việt. Đi lính thì được phát tiền, cộng thêm khoản “chiến lợi phẩm” nho nhỏ thâu được nơi chiến địa nên ông cũng đủ tiền nuôi mẹ.

Lữ Mông tuy còn nhỏ tuổi và không có được đi học nhưng ông có lòng tự trọng rất cao. Ông không ỷ thế COCC mà dựa hơi ông anh rể, chuyện ông đăng lính thì anh rể không hây biết và trong quân, ông cũng chỉ làm lính “cóc nhái” mà thôi.

Một bữa kia, khi đương điểm binh, Đặng Đương phát hiện ra thằng em vợ mình cũng có mặt trong quân, Đặng Đương la mắng một hồi xong về méc bà nhạc mẫu, xin bắt về. Mẹ của Lữ Mông gọi con về la mắng, không cho con tham gia quân đội nữa. Lữ Mông bẩm với mẹ: “Mẹ ơi, nhà mình thì nghèo quá hà, nếu không lập công trên chiến trường thì làm sao giàu sang phú quới được. Còn nguy hiểm cũng đành chịu vì nếu không vô hang cọp sao bắt được cọp con.” Mẹ của Lữ Mông thấy thương con quá nên tha cho.

Từ lúc mọi người biết Lữ Mông là em vợ của Đặng Đương thì bắt đầu có một vài lời đàm tiếu. “Thằng ranh đó dựa hơi tỉ phu của nó thôi chớ làm được quái gì, đem làm mồi câu sấu thì chắc là được chớ đánh đấm quái gì…” vậy là có chuyện. Người ta đăng lính kiếm chút tiền nuôi mẹ mà cũng hổng được an nữa, kiếm chuyện hoài làm sao mà chịu nổi? “Tánh nóng, võ công cao” trong lúc ẩu đả, Lữ Mông không kiềm chế đã đánh chết người đó, xong rồi Lữ Mông tới Hiệu úy là Viên Hùng nhận tội. Chuyện được trình báo lên trên, tới tai Tôn Sách. Tôn Sách thấy lạ và cũng muốn coi thử thằng nhóc nầy mặt mũi ra sao nên cho giải lên coi thử. Gặp Lữ Mông, nghe Lữ Mông trình bày, Tôn Sách lấy làm thích thú, cho Mông làm tả hữu bên cạnh mình.

Mấy năm sau, Tôn Sách chết, em là Tôn Quyền (Tôn Trọng Mưu) lên kế nghiệp. Lúc nầy Đặng Đương cũng chết nên Lữ Mông được cho về kế nhiệm anh rể, bây giờ Mông đã trưởng thành và có mấy năm hầu bên cạnh Tôn Sách nên oai tín đã đủ, không ai nói gì nữa.

2. Quan lộ thăng tấn và âm thầm cải tổ quân đội

Lữ Mông về tiếp quản đội ngũ binh tướng của anh rể, thấy tình cảnh binh lính nhếch nhác quá, ông thấy thương cảm. Lữ Mông bèn cho cấp dưới “thanh lý” vật dụng dư thừa, đồ cũ trong quân (chắc bán ve chai?) lấy tiền “nâng cấp quân trang”, cải thiện đời sống sanh hoạt của binh sĩ.

Nhận thấy tiền Chủ cấp cho quân cộng với tiền “bán ve chai” là chưa có đủ nên Lữ Mông lén bỏ tiền túi riêng mua sắm vật dụng, quần áo mới, cải thiện khẩu phần ăn, phát thêm tiền lương cho binh sĩ… nên chỉ sau một thời gian sĩ khí tăng lên thấy rõ. Lữ Mông hồi nhỏ đăng lính cũng vì tiền mà; binh sĩ cũng còn mẹ già, vợ dại, con thơ ở nhà nữa; giờ làm tướng rồi sao mà ông không hiểu tâm tư nầy của binh sĩ chớ!

Do bổng lộc của Lữ Mông không nhiều, ông phải vay mượn thêm khắp nơi, thường mượn tiền Lỗ Túc (Lỗ Tử Kiếng) mới đủ lo cho lính. Nói sao thì nói chớ làm Tướng quân cầm binh ra trận cũng có cái hay, thắng trận rồi “nhéo” một phần chiến lợi phẩm giữ lại, nộp về trào hao hụt chút đỉnh cũng hổng sao, trả được nợ mấy hồi. Không biết Lữ Tướng quân có “nhéo” được miếng nào không?

Lần kia, Tôn Quyền nhìn cảnh duyệt binh, thấy đội quân dưới quyền Lữ Mông ăn mặc chỉnh tề, binh sĩ khỏe mạnh, sĩ khí phấn chấn… Tự Tôn Quyền cảm thấy binh sĩ như vậy là “ngon” nên đã quyết định tăng thêm quân cho Lữ Mông. Lữ Mông từ chối nhận thêm binh làm Tôn Quyền tiếc hùi hụi do nhìn thấy binh sĩ của Lữ Mông ngon lành quá mà.

Trong Tam quốc chí, Trần Thọ chép:

<< Khi Lữ Mông quản quân đóng đồn trại gần đồn của các tướng Thành Đương, Tống Định, Từ Cố, lúc ba tướng nầy chết, con em họ còn nhỏ dại. Quyền đem hết quân của họ trao cho Lữ Mông. Mông cố từ chối, kể rõ rằng ba người nầy chăm chỉ giúp nước, nay dẫu hi sanh thì công lao của họ vẫn nên để cho con em họ sau nầy tiếp quản. Lữ Mông ba lần dâng thơ từ chối nhận binh, Tôn Quyền xuống nước, chấp nhận tạm giữ các đội quân đó để sau nầy giao lại cho con em ba tướng kể trên. Cũng lúc đó, Lữ Mông lại giúp chọn thầy, sai giúp dạy họ, lòng tốt của Mông đại khái là như vậy. >>
Tôn Quyền ơi Tôn Quyền, ông đâu có biết tiền mà ông phát cho quân đâu có đủ, Lữ Mông phải bỏ tiền túi ra lo cho binh sĩ mới được vậy đó. Nay ông tăng quân thêm giao người ta, ông Lữ Mông kiếm đâu ra tiền bù cho đủ?

Mà ông Lữ Mông nầy cũng “quái”, tiền nhận bao nhiêu thì phát bấy nhiêu, âm thầm bỏ tiền túi chi rồi âm thầm chịu mà không báo cho Tôn Quyền tăng tiền thêm. Ráng chịu!

Tôn Quyền vốn là một hào kiệt và có chí nhứt thống thiên hạ và ông rất yêu quới các tướng trẻ, Lữ Mông lại càng được Tôn Quyền yêu mến. Con đường thăng quan tấn chức của Lữ Mông tới lúc nầy tiền đồ xán lạn, như diều… cá mập gặp gió vậy.

Lữ Mông là một tướng có tài, ông tham gia nhiều chiến dịch đánh nhau với quân Nam man Sơn Việt; chiến dịch Giang Hạ đánh với quân Kinh Châu của tướng Huỳnh Tổ thuộc Lưu Biểu (Lưu Kiểng Thăng); tham gia chiến dịch Xích Bích dưới quyền Đô đốc Châu Do (Châu Công Cẩn); đánh chiếm Giang Lăng của tướng Tào Nhơn (Tào Tử Hiếu) quân Ngụy; chiến dịch phòng thủ Nhu Tu Khẩu đối đầu “ông Kẹ” chuyên dọa trẻ con Đông Ngô – Trương Liêu (Trương Văn Viễn); quản lí Lục Khẩu canh phòng Quan Võ (Quan Vân Trường) của Tây Thục… rất nhiều công lao.

2. Âm thầm sửa đổi và chăm chỉ học hành

Do thuở nhỏ nhà nghèo quá nên không được đi học, Lữ Mông không biết chữ nên không đọc được sách. Lập thân và tấn thân bằng nghiệp binh đao nên Lữ Mông cũng không coi trọng sách vở. Giả bộ như Lữ Mông nếu không biết chữ nhưng khoái đọc sách có thể nhờ người khác đọc cho nghe cũng được mà, đằng nầy ổng ghét chữ nghĩa, sách vở vô cùng.

Như trên đã nói, Tôn Quyền muốn xây dựng quân đội vững mạnh phục vụ mục tiêu nhứt thống thiên hạ và Tôn Quyền mến Lữ Mông lắm. Thấy Lữ Mông “dốt” quá nên Tôn Quyền cũng muốn khuyên nhủ Lữ Mông nên tìm cách mà nói cho Mông sửa đổi. Giang Biểu truyện có chép:

<< Lần đó, Quyền biểu Lữ Mông và Tưởng Khâm lại nói: “Nay các khanh cùng gánh vác việc công, nên học hỏi để tự mở mang hiểu biết thêm”. Mông nói: “Bẩm Chủ công, trong quân thường có nhiều việc, e rằng không có lúc rảnh rỗi để đọc sách”. Quyền nói: “Ta cũng đâu có muốn bắt các khanh đọc sách để làm kẻ sĩ học rộng đâu mà lo. Khanh nói là nhiều việc, có nhiều bằng ta không? Ta thuở trẻ đọc qua Thi, Thơ, Lễ kí, Tả truyện, Quốc ngữ, chỉ không đọc Dịch. Tới lúc nắm việc đến nay, đọc thêm Tam sử (Sử kí của Tư Mã Thiên, Tiền Hớn thơ của Ban Cố, Hậu Hớn thơ của Tạ Thừa), các sách binh thơ, thấy có ích lắm đó. Như các khanh, tánh ý sáng suốt, học tất hiểu được, mau mau học đi thôi… >>

Sau đó Tôn Quyền đưa dẫn chứng rằng Tào Tháo đầu bạc rồi mà còn chăm chỉ đọc sách, làm thơ văn; Quan Võ ban ngày đánh trận tối còn đốt đèn đọc Xuân Thu kìa, khanh… lên lưới coi phim Tam quốc đi thì biết! Mà Lữ Mông thì ghét Quan Võ vô cùng vậy nên Lữ Mông đồng ý với Tôn Quyền và quyết tâm học tập.

Nghĩ cũng tội cho Tướng quân họ Lữ, giờ làm tướng lãnh, mấy chục tuổi rồi mà phải ngồi học từ chữ Giáp chữ Ất vậy mà cũng chịu học. Ông cho thỉnh thầy giáo về dạy chữ cho mình, ngày luyện quân, tối học chữ, ra trận cũng mời thầy theo để khi rảnh rỗi việc quân thì thầy dạy chữ nghĩa cho. Lữ Mông bắt đầu học tuy hơi trễ nhưng rất chăm chỉ, dốc chí không ngừng mà “dẫu nhà Nho cũng không thể hơn được”. Người được tận mục sở thị thành tựu học tập của Lữ Mông là Lỗ Túc.

<< Ngô thơ viết: “Túc là người thẳng thắn, ít dùng ngọc báu, trong ngoài đều tiết kiệm, không kết giao với kẻ tầm thường. Trị quân nghiêm chỉnh, đề ra phép cấm, dẫu lúc vào trận, tay không bỏ sách vở. Lại giỏi bàn luận, thông thạo văn từ, ý tứ sâu xa, sáng suốt hơn người. Sau Châu Do, đứng đầu là Lỗ Túc vậy. >>

Tam quốc chí, Lữ Mông truyện chép: lần đó Lỗ Túc vừa mới nhiệm chức Đại Đô đốc có việc ngang qua nơi đóng quân của Lữ Mông nên ghé vô thăm thằng em coi dạo nầy ra sao. Lỗ Túc vốn có sẵn sự coi thường “học vấn” của Lữ Mông từ trước nên khi nghe Lữ Mông hỏi chuyện quân cơ đại sự thì Lỗ Túc cũng trả lời cho qua chuyện vì đơn giản nghĩ là có nói thì “thằng Mông đất Ngô” nầy làm sao hiểu nổi. Lỗ Túc không ngờ Lữ Mông hào hứng phân tách tình hình rõ ràng, thông tin thời sự cập nhựt nhanh chóng và chánh xác, đồng thời còn hiến kế sách, bày chiến lược ngắn hạn và lâu dài giúp Lỗ Túc.

“Nay anh thay Công Cẩn, liên tiếp gặp khó, lại ở gần với Quan Võ. Người này làm chức lớn mà vẫn ham học, xem qua Tả truyện mà đều nói ra miệng được, lại sáng dạ có chí hùng, nhưng tánh ngang ngược tự kiêu, ưa lấn áp người khác. Nay đối địch với người nầy, anh nên bày kế lạ để chống đỡ mới được”. Mông ngầm giúp Túc bày ba kế, Túc kiếng nghe theo, giữ kín không nói ra.

Lỗ Túc nghe xong thấy nể Lữ Mông quá chừng.

<< Túc vỗ lưng Mông nói: “Ta từng nói thằng em chỉ có tài võ thôi, nhưng không ngờ kẻ học rộng thời nay, chẳng ai bằng “thằng Mông của đất Ngô” nầy vậy!” Mông nói: “Kẻ sĩ sau ba ngày không gặp, gặp lại phải dụi mắt mà nhìn đó nha! >>

Câu nói của Lữ Mông “Sĩ biệt tam nhựt, tức canh quát mục tương đãi” đã đi vô sách vở và vẫn được xài rộng rãi cho tới ngày nay như một thành ngữ để nói về sự tấn bộ nhanh chóng trong học hành, nhanh tới mức người đối diện phải giựt mình. Tôn Quyền biết chuyện cũng có lời khen cho sự chăm học nầy của Lữ Mông:

<< Quyền thường nói rằng: “Người ta làm chức cao mà vẫn chăm chỉ học tập, như Lữ Mông, Tưởng Khâm có lẽ chẳng ai theo kịp. Giàu có rạng rỡ, lại giữ tiết tháo ham học, hiểu thấu sách truyện, khinh tiền trọng nghĩa, đi tới đâu lập công tới đó, được phong đất đai, cũng chẳng tốt sao! >>

3. Nhiệm chức Đại Đô đốc, âm thầm sắp đặt lấy Kinh Châu

Kinh Châu, hai tiếng “Kinh Châu” trong tâm Tôn Quyền cớ như hai chữ “Cối Kê” trong tâm Việt Vương Câu Tiễn thời Chiến quốc vậy. Không lấy lại được Kinh Châu thì làm sao mà Tôn Quyền ăn ngon ngủ an cho được.

Nhắc lại chuyện cũ, vào tám năm trước tức năm Kiến An thứ 14 (209), sau trận Xích Bích đánh bại quân Ngụy, Đông Ngô dưới quyền Đô đốc Châu Do tấn chiếm Kinh Châu của Tào Ngụy (trước là của Lưu Biểu) do tướng Tào Nhơn quản lí. Châu Do hao binh tổn tướng, xém phải mất mạng dưới tay Tào Nhơn nhưng cuối cùng lại bị quân Thục “hớt tay trên” lấy ngọt Kinh Châu. Sau đó Lưu Bị còn xin mượn thêm vài thành khác nữa và Tôn Quyền đã đồng ý. Sau nầy, Tôn Quyền nhiều lần thương lượng đòi lại Kinh Châu nhưng Lưu Bị (Lưu Huyền Đức) và Chư Cát Lượng cớ hẹn lần hẹn lựa lấy hết lí do nầy tới lí do khác để không trả.

Lúc đầu thì Tôn Quyền đồng ý để quân Thục mượn Kinh Châu vì ba lẽ: một là vì liên minh Ngô Thục chống Ngụy trong khi Thục (từ sau trận bị “Tào Tháo dí” ở Đương Dương) không có địa bàn, thứ hai là vì Tôn Quyền muốn lấy quân Thục làm lá chắn chận quân Ngụy giúp Ngô, thứ nữa là vì Lưu Bị “mặt dầy” quá không chịu trả.

<< Châu lang diệu kế an thiên hạ,
Bồi liễu Phu nhơn hựu chiết binh. >>

Châu Do đã bày hết mọi cách mà vẫn không lấy lại được Kinh Châu cho chủ, ôm theo nỗi uất hận làm hành trang tới suối vàng. Châu Do mất, Lỗ Túc lên thay. Lỗ Túc vốn là người hòa nhã, lễ độ và có phần nhu nhược trước Lưu Bị và Chư Cát Lượng trong việc đòi Kinh Châu. Năm lần bẩy lượt chịu nhục đi đòi mà Lưu Bị vẫn “chơi lầy” không trả. Lao tâm khổ tứ với nhiệm vụ chưa huờn thành, tới lúc nhận thấy tánh mạng chắc không giữ được nữa, Lỗ Túc đã cố gắng viết thơ gởi Tôn Quyền đề xuất ý kiến đề cử Lữ Mông lên tiếp quản công việc của mình, đề xuất nầy cũng chánh là hiệp ý Tôn Quyền lắm.

Khi nhận xét về việc bổ nhiệm Lữ Mông kế nhiệm Lỗ Túc, Tôn Quyền từng nói:
<< Lại còn Tử Minh tuổi trẻ, ta nói là hắn không có biện luận, chỉ là dõng cảm có khí đởm mà thôi. Tới lúc lớn lên, tài học càng thêm, bày mưu kế lạ, có thể nói đứng sau Công Cẩn, chỉ là lời lẽ không hây đẹp bằng mà thôi… Tử Kiếng đáp thơ ta nói: “Dựng nghiệp Đế Vương, đều có kẻ phải tiễu trừ, nhưng Quan Võ không đáng lo”. Đấy là trong lòng Tử Kiếng không có cách đánh, cho nên mượn lời nói ở ngoài thôi, ta cũng giận nhưng không nỡ trách mắng vậy. >>
Năm Kiến An thứ 22 (217), Lỗ Túc qua đời, Lữ Mông thay chức Đại Đô đốc thống lãnh toàn bộ binh mã Đông Ngô cho Tôn Quyền, lúc nầy Lữ Mông 38 tuổi.

Làm Đô đốc Đông Ngô không phải là công việc dễ dàng. Nội việc đối mặt với bốn ông lão tướng phục vụ qua ba đời chủ Đông Ngô là Trình Phổ (Trình Đức Mưu), Huỳnh Cái (Huỳnh Công Phước), Hàn Đương (Hàn Nghĩa Công), Tổ Mậu (Tổ Đại Vinh) đã là ghê gớm lắm rồi.

Mà Trình Phổ là ai chớ? Trình Phổ là chiến tướng số một, là công thần đầu bảng của Đông Ngô nha. Ông theo hầu nhà họ Tôn từ lúc Tôn Kiên (Tôn Văn Đài) mới khởi binh, khi mà Tôn Quyền còn ẵm ngửa kia kìa. Theo sách “Tướng soái cổ đại Trung Hoa”, tập 1, Nhà xuất bản Lao động in năm 2006 thì:

<<Do chinh chiến nhiều trận, xông pha hăng hái, Trình Phổ bị nhiều vết thương, trên người gần như chỗ nào cũng toàn là thẹo. >>

Ghê chưa? Vậy mà giờ Lữ Mông làm “sếp” của ông đó luôn, quá ghê!

Xét về tổng thể thì phe Ngô “lép” nhứt trong cục diện chưn vạc. Đất Ngô phần nhiều là đất mới chiếm của dân Bách Việt nên vẫn chưa an định, quân đội Ngô binh ít nhứt trong ba nước.

Tỉ như tỉnh Phước Kiến mãi tới sau khi nhà Tấn của dòng họ Tư Mã bị sụp đổ và lãnh thổ bị người Hồ xâu xé thì người Huê Hạ từ Trung nguơn mới di cư tới tỉnh nầy rồi dần dần lập Huyện, lập Quận chớ còn trước đó vùng này toàn là người Mân Việt chớ không có Hớn nhơn.

Lính Ngô chỉ giỏi thủy chiến thôi chớ lên bộ thì khó bì được kỵ binh Ngụy và bộ binh Thục. Lính Ngô mà dã chiến một đối một với lính Ngụy hoặc Thục thì sao mà chịu nổi?

Thiệt tế lịch sử cũng chứng minh là từ Bắc công xuống Nam thì dễ mà từ phía Nam công chiếm phương Bắc thì thiên nan vạn nan. Suốt mấy ngàn năm qua chỉ có hai lần quân phương Nam tấn chiếm được phương Bắc đó là Minh Thới tổ Châu Nguơn Chương đánh đuổi người Mông Cổ và Tưởng Trung Chánh (Tưởng Giới Thạch) đánh dẹp quân Bắc Dương mà thôi.

Về nhơn chủng học thì Tiêu không rành nhưng trực quan thì thấy người phương Bắc lớn con hơn người phương Nam và tánh tình cũng cứng cõi hơn, háo chiến hơn (vị nào mê cờ tướng chắc cũng rõ vụ nầy ha!). Không biết do khẩu phần ăn khác nhau hây là do di truyền quyết định nhưng từ xưa là đã như vậy rồi, tới nay cũng còn như vậy thôi.

Cái nầy là nói chung, còn nói riêng thì dễ thấy cho dầu ức chế nhưng Tôn Quyền đã bao giờ dám khởi binh lấy lại Kinh Châu đâu? Quân của Quan Võ ở Kinh Châu thôi mà quân Ngô chưa dám đối mặt nữa nói chi đại quân Thục dưới tay Chư Cát Lượng ở Xuyên.

Vậy nên nhiệm vụ lấy lại Kinh Châu cho Tôn Quyền quả thiệt không dễ rồi nhưng đó là nhiệm vụ mà Lữ Mông bắt buộc phải làm.

Quan điểm của Lữ Mông khác hẳn Lỗ Túc về chiến lược phân tranh thiên hạ: Lỗ thì muốn “liên Lưu kháng Tào” còn Lữ thì muốn diệt hậu họa Quan Võ rồi lấy Kinh Châu làm bàn đạp đối kháng phe Tào bởi vì Lữ Mông đã thấy rõ dã tâm của Thục là muốn chiếm đất của Ngô rồi xây dựng lực lượng để chống Ngụy. Sự thực lịch sử đã chứng minh nhận định nầy của Lữ là chánh xác khi Lưu Bị vừa xưng Đế đã ban chiếu đầu tiên là xuất binh đánh Ngô.

Trong nhận định của Lữ thì kẻ thù số một của Ngô không phải là Ngụy, mà là Thục. Trước khi Lữ Mông lên làm Đại Đô đốc thì Ngô – Ngụy đánh nhau ác liệt, chiến dịch Hiệp Phì (nay thuộc địa phận tỉnh An Huy) là một trong số đó. Từ năm 217, Lữ Mông được thống lãnh toàn quân đội nước Ngô thì giữa Ngô và Ngụy đã ngừng chiến huờn toàn. Tuy rằng không có công hàm hay văn thơ nào xác nhận nhưng trên thiệt tế có thể nói là Ngô – Ngụy đã ngầm bắt tay nhau cùng nhìn về kẻ thù chung là Thục.

Năm Kiến An 24 (219), Lưu Bị thắng trận lớn ở Hớn Trung rồi tự xưng là Hớn Trung Vương, thế lực vô cùng lớn. Quân Thục ở Kinh Châu dưới quyền Quan Võ cũng rất lớn mạnh khiến Tôn Quyền lo sợ cho an nguy quốc gia nên tìm cách kết thân với Quan Võ, ông cho sứ giả (mà theo La Quán Trung là Chư Cát Cẩn (Chư Cát Tử Do, là anh ruột của Chư Cát Lượng) qua Kinh Châu xin hỏi cưới con gái của Quan Võ là Quan Phượng (có sách viết là Quan Ngân Bình) cho con trai mình. Quan Võ không chỉ từ chối thẳng thừng mà còn đòi giết sứ giả và mạt sát Tôn Quyền là “chó”: “Hổ nữ sao có thể gả cho khuyển tử?”.

Tôn Quyền nghe sứ thuật lại tức lắm mà cũng ráng nhịn rồi âm thầm cùng Lữ Đô đốc bàn kế sách đánh chiếm Kinh Châu, diệt Quan Võ để rửa hận.

Thừa thế thắng lợi ở Hớn Trung, mùa hè năm đó, Quan Võ ở Kinh Châu mở chiến dịch tấn công Tương Dương – Phàn Thành đẩy quân Ngụy của tướng Tào Nhơn vô thế ngàn cân treo sợi tóc. Khi Quan Võ diệt bẩy lộ quân của Vu Cấm đi cứu Phàn Thành thì tình cảnh quân Ngụy là vô cùng bi đát. Tào Tháo ở Hứa Xương đã rục rịch dời đô. Nếu tướng Tào Nhơn không cùng các binh sĩ nhịn đói, lặn ngụp trong nước giữ được thành thì thầy trò Tào Tháo “không còn một thước đất mà chôn”.

Tình thế nầy thì nếu Lữ Mông cho binh tới lấy Hiệp Phì – nơi mà mấy năm trước quân Ngô đã sa lầy và tốn bao nhiêu xương máu mà không lấy được thì có thể nói là “dễ như trở bàn tay”. Khi vua Ngô hỏi “lúc nầy có nên lấy Từ Châu không?” thì Lữ Mông trả lời Vua rằng:

<< Từ Châu là đồng bằng, cho dầu chiếm được cũng không đủ chống lại Tào Tháo. Còn nếu hạ Kinh Châu, lập tức có thể chiếm cứ toàn Trường Giang, cùng Tào Tháo đối quyết, tranh bá Trung nguơn. >>

Khi Lỗ Túc sanh thời rất ngán Quan Võ (La Quán Trung đã thêu dệt lên câu chuyện “đơn đao phó hội” mà Quan Võ một mình đi gặp Lỗ Túc cũng là tô đậm thêm lẽ nầy). Lỗ Túc thường nhận định “Quan Võ thực lực rất mạnh, có thể liên kết chống Tào”. Lữ Mông thì ngược lại, ông rất ghét thói ngạo mạn “mục hạ vô nhơn” của Quan Võ và cho rằng “Quan Võ quá mạnh, phải diệt đi mới an tâm”.

Và như vậy là Lữ Mông đã “âm thầm” khởi động một chiến dịch mang màu sắc huyền thoại và lưu danh sử sách: “Bạch y độ giang”.

4. “Bạch y độ giang” vạn cổ lưu phương

Một đêm tối lặng lẽ, Trường Giang sương trắng mịt mờ, một đội thuyền buôn trên người toàn đồ trắng, thuyền buồm cũng trắng… Một vị trung niên ra dáng là một thương nhơn mặc đồ trắng đứng ở mũi thuyền đầu tiên đã phát lịnh giương buồm qua sông. Đoàn thuyền buôn âm thầm lặng lẽ vượt Trường Giang hướng tới thành Kinh Châu mà quỉ không biết, thần không hay.

Chiến dịch vượt sông của Lữ Đô đốc nghe thấy có vẻ nhẹ nhàng nhưng ông ta đã phải dụng tâm lương khổ mà sắp đặt châu toàn, mọi thứ huờn hảo hết cả rồi, bây giờ thời cơ đã chín muồi đã tới.

Quan Võ là “thiên hạ đệ nhứt mãnh tướng”, không chỉ giỏi võ mà còn am hiểu binh pháp. Trước khi xuất quân đi đánh Tương Dương – Phàn Thành, Quan Võ đã cho sắp đặt sẵn hàng loạt “phong hỏa đài” dọc sông Trường Giang để “ngày thì hun khói, đêm thì đốt lửa” làm báo hiệu nếu có quân Ngô xâm nhập Kinh Châu đồng thời sắp xếp đội quân phòng thủ ở Kinh Châu và hai thành gần đó do hai tướng Mi Phương và Phó Sĩ Nhơn chịu trách nhiệm. Nhìn qua có thể nói là Quan Võ đã sắp đặt phòng thủ Kinh Châu rất cẩn thận; kế hoạch “kín không kẻ hở” nầy là một bài toán rất khó giải dành cho quân Ngô.

Trong lúc Quan Võ còn đương giao chiến với Tào Nhơn ở Phàn Thành thì nhận được tin báo rằng: Đại Đô đốc Đông Ngô là Lữ Mông do bị bịnh nặng không thể tiếp tục lãnh quân mà đã “về hưu” rồi. Lữ Mông vốn sức khỏe không được tốt lắm, thường xuyên bị bịnh nên nay bịnh nữa cũng không có gì lạ. Bên Ngô thì Tôn Quyền cũng tổ chức lễ tiễn Lữ Đô đốc về hưu hoành tráng, rình rang, ai ai cũng biết, Quan Võ cũng không nghi ngờ gì.

Người lên thay Lữ Mông nhiệm chức Đại Đô đốc là một anh học trò hai mươi mấy tuổi tên là Lục Tốn (Lục Bá Ngôn) lại càng khiến cho Quan Võ coi thường Đông Ngô hơn: “Bộ Đông Ngô hết người rồi sao đưa một tên học trò lên lãnh quân? Đúng là lũ chuột lắt Giang Đông nầy…”

Lục Tốn vừa lên nhiệm chức đã gởi quà ra mắt và một lá thơ cho Quan Võ khen ngợi ông ta hết lời và thiết tha mong muốn nương nhờ oai võ của Quan Võ mà chống Tào Tháo. Từng câu từng chữ đều thể hiện sự tôn kiếng dõng tướng số một nầy khiến cho Quan Võ (vốn rất khoái được khen) cảm thấy cực kì hài lòng. Quan Võ cũng không còn phải đề phòng Đông Ngô nữa, quyết dốc hết binh đương giữ Kinh Châu ra để diệt tướng Tào Nhơn lì lợm đương giữ Phàn Thành trong tuyệt vọng.

Có câu “Quân vô hí ngôn” (Vua không nói giỡn) nhưng mà Tôn Quyền thương Lữ Mông lắm và cũng vì đại nghiệp mà phải đành giả bộ làm lễ tiễn Lữ Đô đốc về hưu mà “gạt” cả văn võ bá quan Đông Ngô cùng toàn thể thiên hạ. Tội nghiệp Vua Ngô vậy!

Theo sắp đặt của Tôn Quyền thì đương lúc náo nhiệt của lễ tiễn thì Lữ Đô đốc đã âm thầm rời Kiến Nghiệp mà trở lại biên giới giáp Kinh Châu, mang theo phục trang thương buôn, buồm trắng, hàng hóa tượng trưng… rồi sắp xếp cho binh sĩ tối nay vượt sông. Toàn bộ sự việc tới lúc nầy chỉ có ba người biết: Tôn Quyền, Lữ Mông và Lục Tốn, ngoài ra không có ai cả, kế hoạch được giữ bí mật huờn hảo.

Mọi thứ đều âm thầm lặng lẽ đúng phong cách “Lữ Đô đốc”.

Tối đó các binh sĩ Ngô hào hứng tham gia màn hóa trang để vượt sông tới Kinh Châu. “Ngựa rọ mõm, người ngậm tăm”, khi gần tới bờ thì phần nhiều binh sĩ được giấu dưới khoang thuyền và giữ im lặng tuyệt đối tránh cho quân giữ phong hỏa đài nghi ngờ.

Lẩn trong sương mờ vượt Trường Giang nên khi đoàn thuyền buôn nầy gần tới bờ Kinh Châu thì quân Thục giữ phong hỏa đài mới phát hiện ra, họ liền chuẩn bị sẵn mồi lửa và lớn tiếng hỏi vọng xuống. Lữ Mông lúc nầy mới nói vọng lên: “Chúng tôi là thuyền buôn lỡ bị gió bão tạt vô đây, xin Tướng quân cho chúng tôi dừng thuyền nghỉ tạm một lát vậy!”

Quân lính giữ đài nghe nói “thuyền buôn” nên muốn “kiếm chút cháo” nên cho người xuống thuyền kiểm tra thử thì thấy đúng là thuyền buôn, chỉ có thương nhơn, bốc vác, người chèo thuyền và hàng hóa, không có binh lính, võ khí chi cả nên tin tưởng. Trưởng đoàn thương buôn cũng “biết điều” đem rượu thịt lên đãi các binh sĩ Thục và tặng thêm một ít tơ lụa để các các anh “về nộp phu nhơn” làm quà. Lẽ đương nhiên là mấy anh quan binh nầy cũng ráng “quan liêu” thêm chút đỉnh: “Ta xin nhận, cảm ơn, cảm ơn lắm! Nhưng mà có chút khó xử là ta ở nhà còn hai cô vợ bé, anh nầy có ba cô bồ nhí nữa. Mấy người đó mà không có quà thì chắc là sẽ ghen tị, hây da…” Trưởng đoàn thương buôn nghe vậy nên “chơi đẹp” luôn, cho người xuống thuyền lấy thêm quà cáp và thêm cả rượu và tiếp thêm mồi lên luôn. Quá đẹp!

Trường Giang đêm gió mát, sương tỏa mịt mờ, có rượu có thịt, ngày mai về nhà có quà cho vợ nữa thì chắc là nếu có mặt ở đó thì ông Tạ Biên Cương sẽ phải… “làm thơ” thôi. Khỏi nói nhiều, các binh sĩ giữ phong hỏa đài không “xỉn quắc cần câu” mới lạ à! Đương ngủ, đám lính nầy bị đánh thức dậy thấy mình bị trói như trong … phim Nhựt nên sợ hết hồn. Lúc nầy ông trưởng đoàn thương buôn hào phóng lúc nãy “hiện nguơn hình” là… Lữ Đại Đô đốc Đông Ngô. “Giờ các anh muốn sống hay muốn chết? Mà các anh chết rồi, vợ lớn, vợ bé, bồ nhí ở nhà ai “hưởng” đây? Thôi, nghe lời ta làm như vầy…, như vầy… ta không bạc đãi các anh đâu.”

Quân Ngô giờ đã có “tay trong” nên binh lính giữ các phong hỏa đài khác lần lượt bị bắt hết không sót một người, đường truyền thông tin mà Quan Võ lập ra giờ đã bị vô hiệu hóa. Lữ Mông an tâm không còn sợ Quan Võ quây về cứu nữa nên nhanh chóng điều quân tới lấy thành Kinh Châu.

Gần tới thành Kinh Châu, Lữ Mông cho “ém quân” gần đó, cho vài binh sĩ giữ phong hỏa đài “có oai tín” tới kêu lính giữ thành mở cửa. Nhận thấy đúng là “người nhà” nên quân giữ thành liền mở cổng, hạ cầu treo trên hào xuống. Các binh lính giữ phong hỏa đài tới cắt dây cầu treo và quân Ngô đồng loạt xông vô. “Quá nhanh, quá nguy hiểm” lính giữ thành Kinh Châu trở tay không kịp nên đã đồng ý buông võ khí đầu hàng luôn. Mà có muốn chống cự lại thì cũng không chống nổi đâu tại Quan Võ rút gần hết binh trong thành chi viện cho mặt trận Phàn Thành rồi còn đâu.

Hai thành lân cận trên địa bàn là Nam Quận của Sĩ Nhơn và Công An của Mi Phương cũng được giải quyết nhanh chóng. Do bất mãn vì bị Quan Võ dọa chém dọa giết lúc trước khi xuất binh đánh Tương – Phàn nên khi Lữ Mông chiêu hàng thì Sĩ Nhơn đã đầu hàng luôn. Sau đó thì Sĩ Nhơn đã tới Công An thuyết phục được Mi Phương cùng hàng Ngô với mình.

Kinh Châu – nỗi uất hận của hai vị Đô đốc tiền nhiệm nay đã được Lữ Đô đốc lấy gọn mà không tốn một binh một chốt nào. Quả là một chiến công ngoạn mục nha!

Nhiệm vụ lấy Kinh Châu đã huờn thành, giờ là lúc Lữ Mông tính sổ với kẻ mà ông ta thù ghét nhứt: Quan Võ.

Tuy rằng Quan Võ giờ đã mất địa bàn Kinh Châu nhưng mười mấy vạn quân của ông ta vẫn còn đó, quân Ngô không đủ sức giáp chiến với đội quân nầy. Như vậy trước tiên Lữ Mông phải làm tan rã đội quân nầy đã. Binh lính của Quan Võ là lính Kinh Châu, họ theo Quan Võ đi đánh Tào Nhơn nhưng mẹ cha, vợ con họ vẫn còn ở Kinh Châu. Sao phải liều mạng vì Quan Võ lấy Phàn Thành trong khi gia đình họ ở Kinh Châu chớ đâu phải ở Phàn Thành? Nay Kinh Châu về tay Ngô rồi, quân vô chiến tâm, loạn là tất yếu.

<< Mông vô chiếm thành, bắt hết người nhà của Quan Võ và tướng sĩ, đều vỗ về họ, hạ lịnh trong quân không được lấn ép người nhà của họ, không được cướp đoạt. Có một tên lính thuộc hạ của Mông là người quận Nhữ Nam lấy một cái nón của nhà dân để che mưa cho áo giáp, áo giáp dẫu là của công, nhưng Mông vẫn cho là làm trái lịnh cấm, không thể vì người cùng làng ấp mà bỏ lịnh cấm được, bèn khóc lóc mà chém người ấy. Do đó trong quân nghiêm túc, đi đường không dám lượm của rơi. Mông sớm tối sai người thân cận đi chăm sóc người già cả, thăm hỏi những nhà không đầy đủ, cấp thuốc chữa cho người bịnh tật, ban cơm áo cho người đói rét. Các tiền của kho tàng của Võ đều đóng kín để đợi Quyền tới.
Võ về, tại đường đi, nhiều lần sai người hỏi tin của Mông, Mông liền đãi hậu sứ giả của Võ, cho đi khắp trong thành, đến hỏi các nhà, có kẻ tự tay viết thơ để làm tin. Sứ giả của Võ về, bàn riêng với nhau, có người biết người nhà không bị gì, được đối đãi tốt hơn lúc trước, cho nên quan quân của Võ không còn lòng dạ chiến đấu nữa. Lúc Quyền vừa tới, Võ tự biết thế cùng, bèn chạy tới Mạch Thành, lại về phía Tây tới Chương Hương, quân đều bỏ Võ mà hàng. Quyền sai Châu Nhiên, Phan Chương chặn đường đi của Võ, cha con liền cùng bị bắt, vậy là Kinh Châu đã định. >>

Kế sách “Phủ để trừu tân” (Rút củi đáy nồi) nầy năm 1975 một lần nữa đã được mấy “ông Hà Nội” tái hiện huờn hảo. Sau khi thất bại ở Cao nguơn, Huế – Đà Nẵng, Thiệu quyết định bỏ nửa giang sơn rút toàn bộ binh lính ở các tỉnh phía Bắc về lập phòng tuyến ở Phan Rang. Quân Giải phóng lấy được các tỉnh phía Bắc liền cho tiếp quản ổn định trật tự trị an và đối đãi tốt với hàng binh và gia đình binh sĩ Cộng hòa ở địa bàn tiếp quản. Thông tin nầy truyền tới, quân Cộng hòa thi nhau đào ngũ để trở về quê lo cho gia đình mình. Cũng nhờ kế sách nầy mà ý đồ quyết chiến giữ nửa giang sơn mong quan thầy Mĩ quây lại của Thiệu tan như bọt nước chớ nếu không sẽ đổ thêm biết bao nhiêu là máu nữa đây.

Chiến dịch đoạt Kinh Châu nầy nếu bạn coi phim Tam quốc năm 2010 sẽ thấy không giống như trên Tiêu vừa nói. Ông dựng phim nầy đã để Lữ Đô đốc sau khi “áo trắng qua sông” đã cho lính “đặc công” tấn công giết hết lính giữ các phong hỏa đài và tung quân huyết chiến với lính giữ thành Kinh Châu. Dựng như vậy lên phim coi hấp dẫn nhưng mà không giống như trong sách vở xưa nha.

Trong cuộc chiến với kẻ thù số một của mình, Lữ Đô đốc đã chủ động tránh đấu sức mà đẩy Quan Võ vô thế phải đấu trí với mình. “Từ nhà tới trường” Lữ Mông đã ép Quan Võ đi vô con đường mà mình đã vạch ra sẵn, tới khi “ván bài lật ngửa” thì Lữ Đô đốc đã không cho Quan Võ một cơ hội trở mình nào.

5. Giấc ngủ đêm hè mát mẻ của Lữ Đô đốc

Sau khi lập được công lớn, Lữ Mông được Tôn Quyền ban thưởng rất hậu: “Lấy Mông làm Nam Quận Thái thú, phong Sàn Lăng Hầu, ban một ức (tức mười vạn) tiền, năm trăm cân vàng ròng. Mông cố từ chối tiền vàng, nhưng Quyền không nghe.”

Tôn Quyền rất yêu mến Lữ Mông, ngay sau khi vừa lập đại công Lữ Mông đã phải bịnh nặng khiến cho Tôn Quyền vô cùng đau xót:

<< Chưa hạ lịnh phong tước, vừa lúc Mông phát bịnh, bấy giờ Quyền ở tại Công An, đón vào trong điện, tìm vạn phương thuốc để chữa bịnh, chiêu mộ người nào chữa khỏi bịnh cho Mông sẽ ban cho ngàn vàng. Bấy giờ có thầy thuốc châm chữa, Quyền vì Mông mà đau xót, muốn mấy lần thấy vẻ mặt của Mông, lại sợ Mông động đậy, thường xuyên lỗ qua tường để xem, thấy Mông đứng dậy ăn được thì nói cười, nếu không thì than thở, đêm không ngủ được. Bịnh được khỏi, liền hạ lịnh sai bầy tôi tới chúc mừng. Sau lại thêm nặng. Quyền tự đến thăm, sai đạo sĩ vì Mông mà cầu đảo ở đàn tế sao. Lúc bốn mươi hai tuổi, bấy giờ chết ở trong điện. Quyền rất đau buồn, vì Mông mà rũ mòn. >> (Tam quốc chí, Lữ Mông truyện – Trần Thọ)

Các vị chắc hẳn còn nhớ chuyện Tôn Sách ghét “mê tín dị đoan” mà giết Đạo sĩ được nhơn dân tôn kiếng là Vu Cát, còn Tôn Quyền thì khác à. Tôn Quyền lúc trước còn gạt cả thiên hạ để giúp Lữ Mông nữa kìa, nay bày trò mê tín để cứu Lữ Mông thì đã là tới đâu, bởi vì Vua Ngô yêu mến Lữ Mông lắm.

Sức khỏe của Lữ Mông vốn không tốt, hồi nhỏ gia cảnh thiếu thốn, tuổi nhỏ đã phải theo quân ăn gió nằm sương, lớn lên quản quân trên sông nước cho nên vẫn thường bịnh luôn. Nay ông ta bịnh mà chết cũng là lẽ thuận tự nhiên nhưng có người vì quá yêu mến kẻ thù của ông là Quan Võ mà thêu dệt nên chuyện vong hồn của Quan Võ nhập vô rồi “vật” chết Lữ Mông. Chuyện nầy không có gì chứng thực.

Lữ Đô đốc tận trung vì nước vậy mà cũng không phải ai cũng ghi nhận. Một số người khoái “thuyết âm mưu” cho rằng sau khi diệt Quan Võ lấy Kinh Châu, oai quyền của Lữ Mông lớn quá, lấn át cả Vua nên Vua Ngô “điểu tận cung tàng” thủ tiêu Lữ Đô đốc. Hoặc là do Lữ Mông vì thù riêng mà nhứt quyết diệt Quan Võ làm cho Lưu Bị chuyển mũi giáo qua Đông Ngô khiến Vua Ngô tức giận mà phạt chết Lữ Mông. Bạn coi phim Tam quốc 2010 sẽ thấy quan điểm nầy. Những lí lẽ trên Tiêu thấy cũng hổng đáng tin vì thiệt tế lịch sử Tôn Quyền đã xử chém Quan Võ và nhìn cách đối xử của Tôn Quyền cho thấy ông rất yêu mến Lữ Mông, từ lúc “thằng Mông đất Ngô” còn chưa chịu học chữ nữa kìa, tới lúc Lữ Đô đốc chết thủy chung cũng yêu mến vậy thôi. Cộng thêm Tôn Quyền giết chết Lữ Đô đốc thì khác nào tự mình chặt tay mình? Vậy nên theo Tiêu, các lí trên dựng phim coi cho kịch tánh thì được chớ không đáng tin.

<< Vào thời Mông chưa chết, được ban các đồ vàng ngọc đều đem hết vào kho phủ, sai người coi kho rằng đến ngày mình hết mạng thì đều trả về cho Nhà vua, việc tang phải tiết kiệm. Quyền nghe tin, lại càng thương cảm. >> (Tam quốc chí, Lữ Mông truyện – Trần Thọ)

Thuở nhỏ vì vài đồng lương lính mà phải cầm đao kiếm liều mình xông pha trận mạc, nay thì được thưởng vàng bạc châu báu lại không chịu nhận. Hành vi nầy là một tham khảo rất hây cho những ai đã đọc qua truyện Tam quốc về thế nào là chữ “đủ” vậy.

Lữ Mông trước lúc qua đời có thơ gởi Tôn Quyền gợi ý về người kế vị chức vụ Đại Đô đốc để thay mình phò Chủ giữ bờ cõi Giang Đông là Lục Tốn. Anh nầy hai năm sau đã không phụ lòng Tôn Quyền và Lữ Mông, đã hỏa thiêu đại quân xâm lược của Lưu Bị tại chiến trận Hào Đình, khiến Lưu Bị uất ức mà chết ở thành Bạch Đế.

“Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử?” (Văn Thiên Tường) Ai trên thế gian nầy mà không phải chết chớ? Năm Kiến An thứ hai mươi lăm, tức năm 220 sau Tây lịch, Đại Đô đốc Đông Ngô Lữ Mông một đời tận trung vì nước đã ra đi vì bạo bịnh, để lại niềm tiếc thương vô bờ cho Vua, dân nước Ngô. Công đức của ông vẫn được người đời ngàn năm ca tụng.

Lữ Mông đã lập được đại công, huờn thành trọng trách được Vua giao cho. Rửa được mối hận của hai người tiền nhiệm Châu Do, Lỗ Túc mà Lữ Mông cực kì yêu kiếng. “Ngô hạ A Mông” đã chăm chỉ học hành, tự sửa đổi bổn thân mình trở thành một Đô đốc tài trí lưỡng toàn không phụ sở vọng của Chủ công Tôn Quyền. Lữ Mông đã làm vui lòng mẹ, để tiếng thơm muôn đời và cũng đã thực hiện được giấc mơ công danh phú quới mà mình ước ao từ nhỏ… Khi mà những ước mơ đã thực hiện được,ước nguyện đã huờn thành, không còn gì phải vướng bận nữa thì có lẽ người về chốn huỳnh tuyền cũng có thể vui vẻ cất bước được rồi.

Tiêu tâm đắc nhứt câu nói nầy của Tào Tháo do thầy Bá Nghị lồng tiếng trong phim Tam quốc 2010: “Chết là một giấc ngủ đêm hè mát mẻ mà người ta có thể nhắm mắt ngủ mà không ưu phiền.” Nếu như lời Tào Tháo nói là đúng thì Đô đốc Lữ Mông cũng có một “giấc ngủ đêm hè” như vậy.



Tiêu
Viết ngày 11 tháng 7 năm Bính Thân

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s