Dương Quá – chọn vực sâu để tìm tri kỷ

duong qua

Trái ngược với Quách Tĩnh, nhân vật Dương Quá lại có một đường đời rất khác.

Nơi đầu tiên chúng ta gặp mặt chàng là một căn hầm đất nấu rượu bỏ hoang – nơi chú bé Dương Quá rách rưới cư ngụ sau khi mẹ qua đời. Được Quách Tĩnh đem về nuôi nấng và đưa tới núi Chung Nam học đạo, Dương Quá không những không tuân theo môn quy mà còn trở thành đào đồ. Chàng gia nhập phái Cổ Mộ, từ đó cùng Tiểu Long Nữ cư trú trong Hoạt Tử Nhân Mộ, tránh ánh mặt trời. Về sau dòng đời xô đẩy đưa Dương Quá tới Tuyệt Tình Cốc, một thung lũng kín đáo ít người biết tới. Dưới đáy sâu của Tuyệt Tình Cốc lại có thêm một tầng nữa: đầm cá sấu chứa nữ tù nhân Cừu Thiên Xích do chính chồng bà ta giam cầm.

Trên đường lưu lạc giang hồ, Dương Quá có trôi dạt tới hang đá có mộ phần của Độc Cô Cầu Bại – đó cũng là nơi chàng gặp gỡ Điêu huynh, luyện Huyền Thiết Trọng Kiếm, sáng tạo ra Ảm Nhiên Tiêu Hồn Chưởng. Sau 16 năm truân chuyên lạc mất người tình, chàng lao đầu xuống đáy Đoạn Trường Nhai, tái hợp Tiểu Long Nữ. Kết thúc câu truyện, Dương Quá dắt tay Tiểu Long Nữ trở về Cổ Mộ, kể từ ấy “Thần điêu hiệp lữ, tuyệt tích giang hồ.”

Khác với Quách Tĩnh, Dương Quá không mặn mà tha thiết gì với núi non. Khi bị đưa tới núi Chung Nam và bị bắt đầu nhập phái Toàn Chân, phản ứng của Dương Quá là uất hận, nổi loạn, và chạy trốn. Hai lần lên núi Hoa Sơn, chàng cũng mau chóng rời đi. Trong truyện Kim Dung, những ngọn núi luôn là biểu tượng của nam tính phồn thực, tuyệt đỉnh võ học, và khí khái anh hùng kiểu Nho gia. Sự chối bỏ của Dương Quá với núi Chung Nam, và cả núi Hoa Sơn sau này, chính là thái độ quay lưng với tất cả những giá trị đó. Những chặng đường của Dương Quá, trái ngược với Quách Tĩnh, luôn gắn liền với hang động, hầm sâu, vực tối. Chúng là biểu tượng của bóng đêm lạnh lẽo và cái chết; của nữ tính, âm tính; của sự cô độc và chối bỏ. Vì sao Kim Dung lại có quyết định như vậy?

Lý do thứ nhất nằm ở mục đích sáng tác. Anh Hùng Xạ Điêu, trên hết, là câu chuyện về “anh hùng.” Phía sau những diễn biến giang hồ, từ trang đầu tiên cho đến chương cuối cùng, là bức phông nền quốc gia, chính trị, xã tắc. Nỗi đau mất nước của người dân Tống, cuộc chiến chống Kim, xung đột với Mông Cổ,.. luôn hiển hiện trong từng trang sách. Quy trình “trèo lên đỉnh núi cao vời vợi” vừa xác lập tính cách trượng nghĩa cổ điển của Quách Tĩnh, vừa khẳng định uy thế bất diệt của Hán tộc trước ngoại tộc. Ở tuổi trung niên, Bắc hiệp Quách Tĩnh vẫn có thể thi triển “Thượng thiên thê” leo lên thành trước mặt hàng vạn quân địch, chính là tiếp nối mạch truyền thống này.

Thần Điêu Hiệp Lữ, trái lại, là câu chuyện về một đôi tình lữ thần tiên. Nó vừa là tiểu thuyết võ hiệp có thiên hướng lãng mạn nhất của Kim Dung, vừa là bức tranh sinh động về các cung bậc tình cảm. Trong suốt câu chuyện, nhân vật Dương Quá không chỉ trải nghiệm mối tình sắt son với Tiểu Long Nữ mà còn bị giằng xé bởi chữ hiếu với người cha đã khuất Dương Khang, tình nghĩa huynh đệ, tình cảm sư đồ, và không loại trừ lòng yêu nước đau đáu. Hành trình bildungsroman của Quách Tĩnh thẳng tắp một đường còn Dương Quá thì lạc lối trong mê cung tình cảm. Bị thu hút bởi nữ giới và tà khí, nhiều khi chàng quay cuồng trong bóng tối của chính tâm hồn mình. Tuyệt Tình Cốc, Hoạt Tử Nhân Mộ, Kiếm Mộ nằm ngầm dưới lòng đất chính là biểu tượng cho những ngõ ngách tâm lý cùng niềm đau giấu kín của con người.

Lý do thứ hai, Kim Dung cố tình khắc họa một Dương Quá thoắt ẩn thoắt hiện nơi âm u, cách biệt với thế giới để biến chàng thành người hùng cô độc. Từ nhỏ đến lớn, Dương Quá luôn là kẻ thách thức quyền uy, đảo lộn trật tự. Những hành động mang tính “phản nghịch” của chàng như lấy sư phụ làm vợ, nhận Âu Dương Phong làm cha, ám sát Quách Tĩnh,…khiến chàng mãi mãi là kẻ đứng ngoài lề võ lâm chính thống. Trong truyện Kim Dung, võ lâm chính là nhân sinh. Nếu Quách Tĩnh có thể đường hoàng ngồi ở vị trí Bắc Hiệp trang trọng trong thành Tương Dương thì Dương Quá vĩnh viễn đeo tấm mặt nạ u buồn, giấu hình giấu tên, không lộ tung tích.

Về cuối truyện, Kim Dung để cho Dương Quá lập đại công được người người tung hô, nhưng chàng vẫn cầm tay Tiểu Long Nữ trở lại Hoạt Tử Nhân Mộ để sống nốt cuộc đời như mộng. Hơn ai hết, Dương Quá ý thức được rằng cái tôi cá nhân của chàng vốn không thể dung hòa cùng tập thể vốn quá nhiều lễ giáo khắt khe. Giống như tiền bối Độc Cô Cầu Bại, Dương Quá chấp nhận chọn cách tự tách biệt khỏi xã hội, miễn sao có tri kỷ bên cạnh. Độc Cô Cầu Bại có Thần Điêu bầu bạn, Dương Quá cũng chỉ cần một mình Tiểu Long Nữ là đủ cho chàng trên thế gian này.

Biểu tượng của máu

Thứ gắn kết số phận Hoạt Tử Nhân Mộ và Tuyệt Tình Cốc là gì? Chính là chàng trai Dương Quá. Sự xuất hiện của chàng đã kích hoạt những cảm xúc bị ức chế, dồn nén của những con người “tuyệt tình”, “thiểu dục” kia, chẳng khác nào hòn sỏi rơi xuống mặt hồ phẳng lặng hay que diêm ném vào đống cỏ khô. Dương Quá dần len lỏi vào trái tim Tiểu Long Nữ, khiến nàng muốn nếm trải cuộc sống phù hoa, rồi lại vì kiếm tìm nàng mà tới Tuyệt Tình Cốc, khuấy động cảnh lặng lẽ nơi đây. Đúng như Trần Mặc đã nhận xét “…tính cách của Dương Quá giống như một chất lỏng nóng chảy, mẫn cảm, lưu động, có lúc sưởi ấm lòng người, làm tan băng giá, nhưng có lúc lại đốt cháy người khác, thậm chí dẫn đến hủy diệt họ.”

Trong Thần Điêu Hiệp Lữ, bên cạnh “tình thánh” Dương Quá còn có hình tượng máu là ẩn dụ cho tình cảm con người: sôi nổi ấm áp và luôn hiện hữu trong ta. Có ba dẫn chứng:

Thứ nhất, những cư dân trong Tuyệt Tình Cốc luôn ăn chay vì chỉ một giọt máu cũng đủ phế bỏ võ công của họ. Ở đây ta thấy lặp lại motif tự hạn chế mình. Chối bỏ tình hay tuyệt tình là một hành vi trái tự nhiên cũng như tránh né máu – một thứ vốn có sẵn trong cơ thể con người. Trần Mặc đã nhận xét: “Cái gọi là công phu bế huyệt, kỳ thực chỉ là công phu tự kìm nén điển hình. Để bảo đảm công phu ấy hữu hiệu lâu dài, Công Tôn Chỉ đành phải kiêng ăn uống chất tanh, tức là tự kìm nén mình. Đồng thời để duy trì tình trạng ấy, không cho chất tanh quyến rũ mình, Công Tôn Chỉ bắt tất cả mọi người ở Tuyệt Tình cốc đều phải ăn chay, tức là không chỉ kìm nén mình, mà còn kìm nén người khác. “

Thứ hai, khi Dương Quá và Tiểu Long Nữ bắt đầu yêu nhau, chàng đã cắt tay lấy máu cho nàng uống để phục hồi công lực. Quá trình truyền máu này có ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Một phần tình cảm nồng nàn của Dương Quá đã được chuyển sang Tiểu Long Nữ, nhờ đó nàng không còn là cô gái băng tuyết hay “hoạt tử nhân” nữa. Từ giây phút này, Tiểu Long Nữ có thể tái hoà nhập thế giới của con người biết yêu thương. Kim Dung đã lấy cảm hứng từ nghi thức kết nghĩa huynh đệ cổ điển “cắt máu ăn thề” và biến nó thành lời tuyên thệ tình yêu.

Thứ ba, khi gặp lại Dương Quá ở Tuyệt Tình Cốc, nỗi bi ai đã khiến Tiểu Long Nữ thổ huyết. Một mặt có thể coi như đây là sự đền đáp cho lần “nợ máu” trước kia, mặt khác nó cũng khẳng định sức nặng tình cảm của Tiểu Long Nữ. Những người xung quanh khi chứng kiến đều hiểu “hai người tình thâm ái thiết, dĩ vãng từng có uyên nguyên cực sâu với nhau.” Thế nhưng họ không biết rằng công phu tu luyện của Tiểu Long Nữ cốt yếu không được nảy sinh tạp niệm, nàng càng tương ái Dương Quá thì nội công lại càng suy kiệt. Vậy mà vẫn bất chấp tất cả để mà … yêu thì quả là một sự dấn thân.

Đường yêu đương khổ nạn của “tình thánh” Dương Quá

Truyện Kim Dung không thiếu những chuyện tình bị ngăn cấm: có khi là do chính tà đối ngược (Trương Thuý Sơn – Hân Tố Tố,) có khi là bởi lợi ích quốc gia (Trương Vô Kỵ – Triệu Mẫn,) có lúc đơn giản do tư thù cá nhân (Đại Ỷ Ty – Hàn Thiên Diệp). Thế nhưng dù âm thầm trốn đi hay công khai nổi loạn thì những đôi uyên ương ấy cũng sớm được “liền cánh cùng bay.” Riêng với Dương Quá-Tiểu Long Nữ, mối tình của họ đã phạm phải điều đại kỵ quá lớn, đến nỗi phải mất 16 năm để được giang hồ công nhận. 16 năm ấy vừa là thử thách, vừa là một lời bảo chứng cho tình cảm đôi lứa.

Các nhân vật nam chính trong Kim Dung đều có giai nhân bầu bạn khi hành tẩu giang hồ, nhưng Dương Quá là một trường hợp đặc biệt. Với Dương Quá, những bài học võ có gắn bó mật thiết với những “bài học yêu,” bởi Tiểu Long Nữ vừa là sư phụ lại vừa là tình nhân của chàng. Nàng tinh thông võ học hơn, nhưng trong tình cảm họ đều ngờ nghệch như nhau. Hai người bọn họ rốt cuộc chỉ có ba phần là tình thầy trò, còn lại bảy phần là luyến ái. Chính vì sự nhập nhằng này mà cả quan hệ sư đồ lẫn khát vọng yêu đương của Dương-Long đều bị giang hồ phủ nhận, dẫn đến vô vàn trở ngại. Có thể nói nửa sau Thần Điêu Hiệp Lữ là sự trả giá của Dương Quá cho mối tình “danh bất chính ngôn bất thuận” này.
.

Cuộc chạy trốn khỏi phái Toàn Chân của Dương Quá là sự phản kháng lại nền ý thức hệ mà Quách Tĩnh hết lòng tuân thủ. Từ đó Dương Quá bỏ lại những quy củ Nho gia để dấn thân vào thế giới của nữ tính thâm sâu bí mật. Thế nhưng trong tình huống này Dương Quá không phải tội đồ duy nhất. Giây phút Tiểu Long Nữ chấp nhận kết nạp Dương Quá vào phái Cổ Mộ, cả hai người bọn họ đã phạm phải một tội nặng bậc nhất trong võ lâm: không tuân lời sư tổ. Hành động này đã để lại hậu hoạ khôn lường. Hạt mầm của sự nổi loạn lại được gieo rắc ở mảnh đất của tình ái, tất phải nảy ra loài cây khổ đau. Nếu chiếu theo văn học phương Tây thì họ chính là star-crossed lovers, đôi tình nhân sinh ra dưới một ngôi sao xấu. Câu chuyện tình của Dương-Long trong toà Hoạt Tử Nhân Mộ có phảng phất hương vị của cổ tích, ngụ ngôn với nhiều ẩn dụ về bất hạnh, chia lìa, và trừng phạt, mà tiêu biểu nhất là ba thử thách mà ta sẽ điểm qua ở bài cuối cùng.

Thử thách đầu tiên của Dương Quá sau khi bái Tiểu Long Nữ làm sư phụ là nằm ngủ trên chiếc giường hàn ngọc. Chiếc giường này có lai lịch rất lớn: đích thân Vương Trùng Dương đã đi tìm loại ngọc quý ở vùng cực Bắc giá lạnh để tặng cho Lâm Triều Anh. Trong văn học, chiếc giường vốn đã là biểu tượng của hôn nhân và gắn bó, ở đây lại nhuốm màu tư tình nam nữ nên ý nghĩa càng đậm. Thế nhưng chiếc giường này lại chứa đựng nhiều mâu thuẫn: nó lạnh chứ không ấm, nó là dụng cụ luyện công chứ không phải nơi kề vai ấp má, và chỉ những người đàn bà cô đơn gối chiếc sử dụng nó chứ không hề có hơi ấm đàn ông. Mục đích sử dụng của chiếc gường đã hoàn toàn bị đảo lộn, nó trở thành nhân chứng cho trái tim lạnh lẽo của các ngọc nữ phái Cổ Mộ và sự trái khoáy của việc “tuyệt tình.”

Phải đến khi Dương Quá nằm lên nó thì ý nghĩa của chiếc giường mới hoàn toàn thay đổi. Đặt trong bối cảnh văn học, việc Tiểu Long Nữ cho phép Dương Quá cùng chia sẻ chiếc giường với nàng là có ẩn ý tình dục không thể bàn cãi. Nếu chiếc giường hàn ngọc là biểu tượng cho sự trinh nguyên của Tiểu Long Nữ thì sự có mặt của Dương Quá đã làm tan đi lớp bảo vệ đầu tiên và mở đường cho những rung động sau này. Bầu máu nóng của chàng trai trẻ mau chóng làm ấm lên chiếc giường và cả trái tim người thiếu nữ. Từ đó chiếc giường hàn ngọc thành nơi giao hoà của hai giới, có thể nói là đã chứng giám cho mối tình thâm của hai vị tiền bối Vương Trùng Dương-Lâm Triều Anh. Thế nhưng chiếc giường cũng khiến Dương Quá “toàn thân run bần bật, hai hàm răng gõ vào nhau cầm cập. Nằm một lát nữa, khí lạnh thấu xương, thật không tài nào chịu nổi.” Sự tổn thương thân thể này phản chiếu việc Dương Quá bị mất cánh tay, Tiểu Long Nữ bị cưỡng hiếp và trọng thương – cái giá đầu tiên của mối tình ngang tái.

Thử thách thứ hai của Dương Quá sau khi nhập môn phái Cổ Mộ là chộp bắt những con chim sẻ do Tiểu Long Nữ thả ra. Số lượng chim sẻ tăng từ 3 đến 81 con, phạm vi luyện tập của chàng cũng nới rộng từ gian thạch thất nhỏ ra khoảng không ngoài trời.

Hai người đi ra ngoài nhà mồ, lúc này đang là tháng Ba mùa xuân, cây lá xanh non. Dương Quá hít sâu mấy hơi, cảm thấy hương hoa thơm mát tràn vào lồng ngực, dễ chịu vô cùng. Tiểu Long Nữ mở nghiêng miệng cái túi vải, chim sẻ từ trong túi lũ lượt bay ra; lúc này hai bàn tay với mười ngón búp măng của nàng dang rộng, tay vẫy, tay phẩy, buộc những con chim sẻ đang giương cánh bay đi phải quay trở lại. Bầy chim được sổ lồng, lẽ nào không bay đi tứ phía? Nhưng lạ thay, song chưởng của Tiểu Long Nữ chỉ làm như thế, mà toàn bộ tám mươi mốt con chim sẻ đều quần tụ ở trước mặt nàng trong phạm vi ba thước.[…]

Cứ thế luyện tập không mệt mỏi, hết xuân qua hạ, ngày càng tiến bộ. Dương Quá thông minh dĩnh ngộ, cần mẫn dụng công, số chim sẻ chặn giữ được ngày càng tăng, đến sau Trung thu, nó đã luyện xong bộ chưởng pháp “Thiên la địa võng thế”, khi thi triển, nó có thể ngăn giữ được tám mươi mốt con chim sẻ. Nếu có con nào bay thoát, thì chỉ là vì công lực của nó chưa thuần mà thôi.

Thử thách thứ hai này, tuy không đau đớn về thể xác nhưng lại yêu cầu sự kiên trì và bền bỉ cực độ. Nó tương ứng với giai đoạn thứ hai trong chuyện tình của Dương Quá: khi chàng đi khắp thiên hạ tìm bóng người yêu. Vì hiểu lầm nhau, vì lễ giáo cản ngại, vì dòng đời xô đẩy, tổng cộng Tiểu Long Nữ đã ba lần ly khai Dương Quá, theo Trương Hải Hồng nhận xét là có tác dụng “muốn bắt vờ thả.” Thế nhưng anh chàng Dương Quá cũng không phải dạng vừa. “Thông minh đĩnh ngộ,” “cần mẫn dụng công” là tố chất khiến Dương Quá luyện tập thành tài, nhưng cũng là điều kiện cần để chàng theo đuổi tình yêu sau này. Học võ ở đây chỉ là phụ, là tiền đề cho chàng rèn luyện bản lĩnh đi tìm người trong mộng. Thế nên dù cánh chim sẻ Tiểu Long Nữ có bay cùng trời cuối đất thì môn công phu “Thiên la địa võng thế” của Dương Quá cũng bắt nàng trở về bên chàng.

Thử thách cuối cùng chính là luyện Ngọc Nữ Tâm Kinh. Theo truyện mô tả, khi luyện tới đây thì hai người đã trưởng thành: “Tiểu Long Nữ càng lớn càng mỹ lệ tuyệt luân. Năm nay Dương Quá đã mười sáu tuổi, thân hình cao lớn dần, giọng nói hơi ồm ồm, đã thành một trang thiếu niên tuấn tú, chứ không còn là một đứa bé như lúc tới nhà mồ.” Oái oăm thay cách luyện môn này là cả hai người đều phải … cởi hết quần áo. Ý đồ dẫn dắt câu chuyện của Kim Dung không nói thì cũng đã rõ rành rành. Cảnh thầy trò cùng luyện công bởi vậy cũng lãng mạn như cõi bồng lai:

Bụi hồng này dài tới vài trượng, tầng tầng lớp lớp hương thơm ngan ngát. … như có một tấm bình phong, hoa đỏ cành lá xanh, trông rất đẹp mắt, bốn phía có bóng cây bao phủ, tựa hồ một tòa phòng ốc bằng hoa lá cành do thiên nhiên kết thành.

Nàng nhảy lên cây, nhìn tứ phía, thấy đông nam tây bắc đều một màu xanh cây lá tĩnh mịch, văng vẳng tiếng suối rì rào, tiếng chim líu lo, không một dấu chân người, quả là một nơi luyện công cực tốt, bèn nói:

– Ngươi chọn được chỗ tốt, tối nay ta ra đây luyện công.

Canh hai tối hôm ấy, hai người ra chỗ bụi hoa hồng. Ban đêm, mùi hoa càng đậm đà. Tiểu Long Nữ đem pháp môn khẩu quyết tu tập “Ngọc nữ tâm kinh” nói ra một hồi, Dương Quá hỏi những chỗ chưa rõ, rồi hai người sang hai bên bụi hoa hồng, cởi hết quần áo, bắt đầu luyện tập. Dương Quá chìa tay trái qua bụi hoa, chạm vào bàn tay phải của Tiểu Long Nữ, hễ trong lúc luyện tập ai gặp chỗ khó, thì người kia nhận cảm ứng sẽ lập tức vận công trợ giúp.

Hai người từ đó lấy đêm làm ngày. Buổi tối họ luyện công, ban ngày nghỉ ngơi trong cổ mộ. Hồi này đang là mùa hạ nóng bức, ban đêm dụng công càng mát mẻ; cứ thế hơn hai tháng bình an vô sự.

Hai người ở hai bên bụi hoa hồng tự luyện tập, toàn thân hơi nóng bốc lên ngùn ngụt, hòa với mùi hoa thêm nồng.

Ngọc Nữ Tâm Kinh là tâm pháp do Lâm Triều Anh tạo ra để đối địch với Vương Trùng Dương, nhưng tương tự như Ngọc Nữ Kiếm Pháp, nó chứa đựng nhiều tình hơn là hận. Trong toàn bộ Thần Điêu Hiệp Lữ, đây là giây phút gần gũi về thể xác nhất của Dương Quá và Tiểu Long Nữ. Thế nhưng bài học của cây Tình Hoa đã được lặp lại: luyến ái sâu đậm nhất luôn đi kèm với trừng phạt ác nghiệt nhất. Đây có thể ví như giây phút cuối cùng trước khi đôi Adam-Eve bị đuổi khỏi Địa đàng, bởi liền sau bức tranh tiên cảnh này là đau đớn và chia lìa: Tiểu Long Nữ bị Doãn Chí Bình cưỡng hiếp, hai người bọn họ phải rời khỏi toà Cổ Mộ và lạc mất nhau, bị sỉ nhục và hành hạ. Lần thứ hai khi hai người cùng trở lại tòa Cổ Mộ thì quá nhiều mất mát đã xảy ra: thân thể hai người không còn toàn vẹn mà danh dự cũng không, đại đa số võ lâm đều coi khinh họ vì cả gan làm chuyện “suy đồi.” Tiếp nối là 16 năm xa lìa nhau cho tới khi họ sánh vai nhau trở về Hoạt Tử Nhân Mộ vĩnh viễn.

Không chỉ có vậy, Dương Quá vẫn phải theo khuôn phép “đại hiệp cao cả nhất là vì nước vì dân” mà Quách Tĩnh đã sớm thiết lập. Quá trình lập công chuộc tội của Dương Quá trước hết là hành hiệp trượng nghĩa, sau là ba đại công với Tương Dương, cuối cùng là ném đá chết đại hãn Mông Kha dưới thành. Kim Dung muốn viết một câu chuyện về “hiệp lữ,” nhưng vẫn không thể không có yếu tố “anh hùng.” Nếu không có giai đoạn “cải tạo lao động” dài đằng đẵng này, trong mắt võ lâm (và cả người đọc,) Dương Quá sẽ mãi mãi là kẻ vì nữ nhi mà quên đi khí khái anh hùng. Để được đường hoàng danh chính ngôn thuận kết đôi cùng Tiểu Long Nữ, Dương Quá đã phải trải qua từng đấy gian truân, thậm chí đánh đổi cả sinh mệnh.

Kết

Truyện Kim Dung dù tình tiết biến ảo khôn lường nhưng cấu trúc cơ bản tương đối đồng nhất. Những nhân vật nam chính của Kim Dung đa số đều trải qua ba giai đoạn tuổi trẻ nông nổi, tung hoành giang hồ, và lui về ở ẩn. Có điều để xứng đáng được “về hưu,” những vị anh hùng này đều phải hoàn thành một (hoặc nhiều) công lao nào đó, thường là đem lại hoà bình cho giang hồ (Lệnh Hồ Xung), báo đền nợ nước (Quách Tĩnh), hoặc kết hợp cả hai (Trương Vô Kỵ). So với những vị anh hùng này, sự thoái ẩn của Dương Quá có điểm giống và cũng có điểm khác. Chàng không ra hải ngoại trốn tránh sự đời như Viên Thừa Chí, cũng không tìm một chốn Đào nguyên lánh mình như Quách Tĩnh, Lệnh Hồ Xung. Sau 16 năm lăn lộn giang hồ, Dương Quá lại trở về toà mật thất lạnh lẽo dưới chân núi Chung Nam. Thế nhưng có lẽ Dương Quá lại là người có kết cục đáng hài lòng nhất.

Đa phần truyện Kim Dung đều khép lại với những cái kết có hậu nhưng vương chút xót xa. Những vị anh hùng kia dù đã có tất cả oai danh, mỹ nhân, của cải, thẳm sâu trong lòng họ vẫn có điều tiếc nuối. Quách Tĩnh về đảo Đào hoa nhưng lòng vẫn canh cánh nợ nước, Trương Vô Kỵ ngày ngày vẽ mày cho người ngọc nhưng chưa thể quên sự phản bội của Chu Nguyên Chương, Lệnh Hồ Xung cùng Doanh Doanh vui khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ nhưng vết đau vì bị “tiểu sư muội” phụ bạc vẫn còn đó. Ngay cả Vi Tiểu Bảo sau khi dắt 7 phu nhân của y chạy biến vẫn không khỏi lưu luyến Khang Hy và các huynh đệ Thiên Đệ Hội.

Thế nhưng 16 năm lưu lạc đã cho Dương Quá nếm trải đau khổ tột độ lẫn vinh quang tột cùng, đủ để không còn gì hối hận trên đời. Dương Quá dứt áo ra đi mà lòng không còn gì vấn vương, bởi với chàng, được tái hợp Tiểu Long Nữ chính là cái đích cuối cùng và duy nhất. Toà Hoạt Tử Nhân Mộ lạnh lẽo kia với hai người Dương-Long chính là địa đàng thật sự dưới trần thế. Quá trình yêu đương khổ nạn của Dương Quá, như vậy, có thể coi là có hậu hay không?


Anh Nguyễn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s