Quan Vân Trường là người thế nào?

154997977886895-thumbnail

1) Kể về phương diện tài năng: Quan Vũ là một người có bản lĩnh, nhưng chỉ bản lĩnh chinh chiến mà không có bản lĩnh chính trị.

Cứ xem như trong toàn bộ Tam Quốc Chí, mỗi lần lực lượng Lưu Bị phân binh thì bao giờ cũng chỉ có hai người lãnh đạo là Lưu Bị, và Vân Trường.

2) Người phương Bắc vốn vẫn không thiện thuỷ chiến, mà khi Vân Trường lãnh đạo Kinh Châu, thuỷ binh trong tay Vân Trường cũng không dở.

3) Kể về phương diện tâm chất, đạo đức, Vân Trường hoàn toàn là con người khí khái anh hùng đặc biệt của một võ sĩ phong kiến thời đại. Tâm chất này đã tạo thành nhiều nhược điểm của Vân Trường trên chính trị.

Thua trận Mạch Thành và cái chết của Vân Trường là một vết thương chí mạng cho lực lượng Lưu Huyền Đức. Bởi vì mất Kinh Châu thì chỉ còn có một đường phát triển vào Trung Nguyên là đường từ Ích Châu qua Hán Trung sang Quan Trung, đường này lại rất nguy hiểm, đường núi trùng điệp; còn Kinh Châu, Thục Vương có thể đánh Tào bằng lối Nam Dương, Lạc Dương. Do đó mà sau này Gia Cát Lượng mấy lần phạt Nguỵ đều thất bại.

Căn rễ của cái họa Kinh Châu ở đâu?

Xét kỹ ra, nếu Lưu Bị biết hợp cùng Lưu Chương đánh Trương Lỗ ngay khi lực lượng Mã Siêu-Hàn Toại đương hoành hành quấy nhiễu Tào Tháo, chắc tình thế đã đổi khác.

Lưu Bị đánh Lưu Chương giữa lúc Tào Tháo bình xong bọn Mã Siêu, Hàn Toại rồi chuyển quân công phá Hán Trung là một nước cờ rất thấp.

Đi nước cờ thấp ấy, Tào Tháo mới có cơ hội đoạt Hán Trung, liên lạc với các tướng tá vùng Lương Châu xâm phạm khuấy loạn Quan Trung khiến cho Lưu Bị buộc phải phái Quan Vũ ra đó chống giữ khiên chế thế lực Tào, thành ra Kinh Châu bị bỏ trống.

Kinh Châu mất, kéo thêm thất bại nặng nề là trận Hào Đình, thua trận này (Lưu Bị?) rút về thành Bạch Đế và chết ở đó.

Tam Quốc Chí diễn nghĩa nói việc Lưu Bị hưng binh phạt Ngô là để trả thù cho người Em kết nghĩa Vân Trường.

Chuyện ấy hoàn toàn bịa đặt, hoàn toàn tiểu thuyết hoá.

Có một chứng cớ rõ ràng là:

Lưu Bị cử binh đánh Ngô cách xa ngày Quan Vũ bị giết hơn một năm rưỡi. Với khoảng thời gian này, đối với con nhà Chính trị, đương nhiên lý trí phải thắng cảm tình.

Chẳng qua đánh Kinh Châu, Lưu Bị chỉ muốn cứu vãn nước cờ thấp mà thôi. Nguyên nhân xa xôi của nó vẫn là Chính sách cấp công cận lợi tại Ích Châu, đến nỗi không còn lực để bảo vệ Kinh Châu vậy. Thế mới biết: phân biệt được nổi cái Nhanh với cái Chậm, cái Tấn tiệp với cái Trầm tĩnh, đối với các Chính trị gia thật là điều cực khó.

Phùng Mộng Long nói rằng: “Thành sự đại giả, tranh bách niên bất tranh nhất tức, nhiên nhi nhất tức cố bách niên chi thuỷ dã” nghĩa là: Muốn thành công lớn phải biết tính việc một trăm năm, không tính việc một chốc một nhát, nhưng cái việc một trăm năm bao giờ cũng khởi thuỷ từ cái việc một chốc một nhát.

Thời thế biến không chờ ai, vậy phải hành động nhanh như gió bão, như sét đánh chẳng kịp bưng tai. Nhưng tất cả kỹ thuật để thực hiện một hành động sấm sét gió bão lại nằm ở nơi biết thung dung nhận rõ thời thế, nhận đúng cơ duyên.

Quan Vân Trường là một nhân vật trọng yếu đời Tam quốc. Trọng yếu vì những võ công oanh liệt và cũng trọng yếu vì thất bại trên chính trị của ông đã làm đảo lộn cục diện.

Quan Vân Trường lại càng trọng yếu hơn do ảnh hưởng của ông đối với hậu thế. Người đời sau ngưỡng mộ tấm lòng trung kiên của ông mà lập miếu thờ khắp nơi.

Sử gia Trần Thọ phê bình Vân Trường rằng: “Sứng vạn thế chi địch, vi thế hổ thần, nhiên Vũ cương nhi tự căng, Phi bạo nhi vô ân”. (Sức muôn người khôn địch, nhưng Quan Vũ quá cứng lại kiêu, còn Trương Phi hung bạo mà vô ân).

Tại sao một con người như thế mà được toàn dân sủng ái?

Có hai nguyên nhân:

1) Dân chúng chịu ảnh hưởng ngòi bút tài ba của nhà văn La Quán Trung đã khéo tô vẽ Vân Trường thành một tiêu chuẩn nhân cách siêu việt.

2) Nhu cầu chính trị.

Trước hết ta phải hiểu tính tôn kính đức hạnh trong quan niệm chính trị của con người Trung Quốc. Đối với một nhà chính trị, người Trung Quốc thường đặt câu hỏi: Người ấy đức hạnh ra sao trước hết? Những thắc mắc về lý luận tư tưởng đều chỉ là phụ.

ĐỨC là gì. Các cổ thư giảng rằng: Đức, đắc dã (Đức là cái điều mình được) nhưng được cái gì? Chu Mục đời Hậu Hán cắt nghĩa: Đắc kỳ thiên tính vị chi Đức (được thiên tính gọi là Đức). Cái nghĩa “được” trong chữ Đức của người Đông Phương hiểu với một tính cách tuyệt đối lý tưởng hoá. Đời sống chẳng có cái gì gọi là “Được” cả bởi vì rồi cũng dẫn đến cái chết. Tiền tài hay hết thảy mọi thứ làm thoả mãn cho dục vọng của ngũ quan, khi đã tới gần sự chết thì cũng chỉ là không.

Vậy thì ở đời thế nào gọi là mình đã được? Hãy nghe Mạnh Tử nói: “Con người đến với thế giới, mở mắt ra nhìn năm màu bảy sắc, mê loạn nên trước cần phải biết ta sẽ được cái gì mà không được cái gì? Nhiều kẻ cứ lầm tưởng rằng phải lấy ở bên ngoài mới gọi là được, và vì thế kẻ ấy sinh ra không chịu cho bao giờ. Thiên hướng về dục vọng ngũ quan nên ham lấy, càng ham lấy thì càng làm hẹp cái vòng sống của mình để rồi tiêu tan vào sự chết. Chỉ có những người biết “cho” nhiều, mở rộng cái vòng sống của mình ra vô tận thì mới mong bất diệt được”.

Quan niệm ấy đi vào chính trị, người Trung Quốc liền phân ra hai loại chính trị tiểu nhân và đại nhân. Chính trị của đại nhân là đem thân mình ra cung hiến cho xã hội. Phát huy cái chính trị của đại nhân lên cao hơn gọi là Thánh nhân. Như vậy mới thật là Đức.

Mạnh Tử đem ra ba người để chứng minh Thánh đức như các ông:

– Y Doãn chứng minh trách nhiệm của bậc thánh.

– Bá Di chứng minh đức thanh sạch của bậc thánh.

– Liễu Hạ Huệ chứng minh đức hoà của bậc thánh.

Theo ông thì Thánh là kết quả của công phu lập đức hay kiến lập một tiêu chuẩn nhân cách cá nhân. Nếu chúng ta sống vào lúc đen tối, hỗn loạn, ô trọc, tất nhiên chúng ta mong mỏi có một người nào đứng lên đảm nhận trách nhiệm tích cực vì chúng ta mà phấn đấu, vì đời mà dựng nghiệp. Thế cũng chẳng khác chi đời xưa hy vọng vào Ông Y Doãn vậy.

Nếu chúng ta sống vào lúc cuộc đời quá vẩn đục, chúng ta sẽ thèm khát một con người thanh cao liêm khiết, quang minh chính đại như đời xưa đã nhìn nhận Ông Bá Di.

Nếu chúng ta sống vào cuộc đời quá đua tranh chém giết, chúng ta sẽ hoài vọng một người như Liễu Hạ Huệ, biết ứng phó sự vật biến cố một cách hoà bình, không tranh cạnh, không hận thù.

Nói tóm lại chữ Đức là mức đòi hỏi tối cao, cao đến độ sự đòi hỏi ấy không bao giờ có thể thực hiện nổi trong chính trị.

Tại sao?

Chỉ vì nó là một tín ngưỡng hoàn toàn ảo tưởng, nó mang khả năng thoả mãn một cá nhân cô lập và không quan hệ lắm đến phong trào chính trị lớn lao nghiêm trọng, vì nó thường tách rời thực tiễn chính trị.

Ở nhân vật Quan Vân Trường đã biểu hiện rất rõ rệt sự thất bại của thứ tín ngưỡng ảo tưởng đó trên chính trị. Cái Đức khi đã trở thành một thái độ câu nệ thì chẳng những nó không mở rộng vòng sống như cổ nhân nghĩ, mà trái lại nó còn thắt vòng sống lại hẹp hơn. Và dĩ nhiên nó hoàn toàn vô ích cho chính trị.

Sau này triết gia Chu Tử thấy rõ mối nguy cơ của chữ Đức lệch lạc đến nỗi biến ra bệnh rởm, nên ông bèn xướng lên thuyết cùng lý, chủ trương biến lương tâm thành lương tri, sử dụng lương tri mà dẫn đường cho đức hạnh. Lương tri đòi hỏi con người có tầm nhận thức rộng lớn hơn, vượt ra ngoài vòng thiện ác để tìm đến lãnh vực đúng và sai. Chu Tử chứng thực rằng: Đức câu nệ đã làm hại chính trị và văn học từ trước tới giờ nhiều lắm rồi.

Để phát huy tiêu chuẩn nhân cách Quan Vân Trường, nhà văn La Quán Trung mở đầu bằng cách tiểu thuyết hoá cuộc gặp gỡ của bộ ba Lưu, Quan, Trương kết nghĩa vườn đào. Sau rồi đến cái chết của Lưu Bị ở Bạch đế Thành cho đúng với lời thề. Lấy con mắt chính trị mà xét thì những chuyện đó chẳng khác gì chuyện hai dũng sĩ ngồi quán rượu bàn luận Quốc sự, rồi vì muốn tạ lòng tri kỷ nên mỗi người tự lấy dao xẻo thịt minh, người nọ trao cho người kia làm đồ nhắm, cuối cùng cả hai cùng lăn ra chết. Mặc dầu bị Tam Quốc Chí ảnh hưởng rất mạnh, nhưng quảng đại quần chúng Trung Quốc vẫn có những nhận định tinh tế và dí dỏm, cho nên vào cuối đời Tống, trong dân gian mới được lưu truyền câu chuyện hài hước về kết nghĩa Lưu Quan Trương như sau:

Trương Phi nhà giàu, trước cửa nhà có con sư tử đá, nếu ai lay chuyển nổi con sư tử, Trương Phi gả em gái cho. Bố Quan Công rất nghèo, trồng đậu, làm đậu hũ kiếm ăn. Nhà ông ta ở cùng dãy phố với Trương Phi. Phi thường đến mua đậu hũ chịu. Lâu ngày tiền chịu tích luỹ khá nhiều. Bố Quan Công đến đòi, chẳng những không lấy được tiền, còn bị Trương Phi nện cho một trận nhừ tử. Lúc ấy Quan Công 18 tuổi, thấy Trương Phi đánh bố mình, nổi giận chạy phăng đến nhà Phi, nhìn quanh không thấy côn bổng gì cả, bèn nhấc bổng con sư tử đá dùng làm vũ khí đuổi đánh Phi. Phi vừa hãi vừa kinh ngạc vội núp vào góc tường nói: “Mày hãy bỏ sư tử đá xuống rồi tao gả em gái cho.” Quan Công nghe vậy, mặt ửng đỏ như gấc chín, quát: “Tao là Quan Vũ đây, lấy em gái mày làm gì, tao đến đòi tiền đậu hũ.” Trương Phi thấy Quan Công buông lời ngạo mạn cũng nổi nóng xông vào giằng con sư tử đá. Cuộc tranh hùng đang gay go thì hốt nhiên có một người cao lớn từ đâu đi tới, vai mang một bị đầy dép cỏ. Người đó giơ tay gạt Quan Trương ra hai bên. Quan Trương lấy làm lạ hỏi: “Mày là thằng nào vậy?” Người mang bị dép nói: “Tao là Lưu Bị cháu hai mươi đời Lưu Bang đây.” Quan Trương nghe thấy nói dòng dõi Hán Vương vội vàng quy phục ngay. Chiều hôm ấy, cả ba làm tiệc tế trời đất cùng nhau thề thốt kết nghĩa. Câu chuyện trên đây tuy cũng là câu chuyện bịa đặt, nhưng nó chất chứa một sự thật là chế giễu việc kết nghĩa quá ư tiểu thuyết của Tam Quốc Chí diễn nghĩa. Mặt khác nó cũng nói lên tâm trạng sính “chính thống” đương thời.

Tục thờ Vân Trường khởi từ thời Thanh, xướng lên bởi các tay giang hồ mãi võ Cách mạng phản Thanh phục Minh. Miếu thờ Quan Vũ chính là một hình thức hội kín nhưng mang bộ mặt hợp pháp. Nhưng kế hoạch này bị Thanh triều phá vỡ. Vua Thuận Trị nhà Thanh thấy tình hình nếu cứ để hội kín nấp dưới bóng Vân Trường thì rất nguy hiểm, mà đàn áp chắc không xong rồi, nên mới giáng chỉ cho toàn quốc lập miếu thờ, giáng chỉ này cũng áp dụng luôn cả với dân tộc Mãn Thanh nữa. Mục đích là làm chết không khí hội kín bên trong miếu thờ Vân Trường. Vua Càn Long giáng chỉ phong Quan Vũ làm Trung Nghĩa Vũ Thần Đại Đế. Quả nhiên hội Vân Trường mất hẳn hiệu lực, từ cách mạng chuyển ra mê tín cầu phúc giải tội, dần dần các miếu lọt vào tay bọn buôn Thần bán Thánh. Âm mưu phục Minh cũng tan rã.

Đó là tất cả nguyên nhân tại sao Vân Trường lại được sùng bái, phổ biến rộng lớn vậy. Nếu không có cuộc Cách Mạng phản Thanh, thì chắc việc hiển thánh của Quan Vân Trường trong Tam quốc chí diễn nghĩa đã bị bỏ quên rồi.

Bàn hẳn vào cái Đức của Quan Vân Trường

Cổ nhân nhận rằng Đức có tám thể:

1) Nhân.

2) Nghĩa.

3) Lễ.

4) Tín.

5) Thứ.

6) Nhẫn.

7) Trung.

8) Dũng.

– Về chữ “Nhân” sách Luận ngữ viết: Nhân là yêu người (nhân giả ái nhân) cho nên người có lòng nhân thì thiên hạ không ai địch nổi. (Nhân nhân vô địch ư thiên hạ). Vân Trường có thể gọi là người Nhân theo đúng nghĩa Luận ngữ chăng. Toàn bộ Tam quốc chí người đọc thường thấy Vân Trường quát mắng: “Dòng hổ mà lại lấy dòng chó à?” Lúc Khổng Minh về với Lưu Bị, hễ mỗi lần có việc sai phái đến Vân Trường thì đều bị Quan Trương hậm hực phản đối. Thế thì Vân Trường bất nhân sao? Đương nhiên không thể dùng danh từ bất nhân mà gán cho Vân Trường được, nhưng cái đức nhân của Vân Trường, nếu xét nó dưới nhãn quan chính trị, thì ta không thể nào ca tụng được.

– Về chữ “Nghĩa”, Mạnh Tử nói: Nghĩa là điều nên làm. Theo Mạnh Tử “Nghĩa” là phép ứng phó với sự vật. Hoài Nam Tử nói: Nghĩa giả tụ nhân, tụ nhân, cố bất nhẫn loạn. (Có nghĩa tất quy tụ được người, người quy tụ thì không loạn). Quan Vân Trường tuy là người nghĩa khí, nhưng cái nghĩa của Vân Trường ở mức độ thấp ứng phó giữa cá nhân với cá nhân, với sự vật trước mắt, chữ Nghĩa của Vân Trường không vươn được tới lãnh vực chính trị. Do đó Vân Trường mới bị bọn Phó Sĩ Nhân, Mi Phương làm phản ở Kinh Châu.

– Về chữ “Lễ”, cổ nhân giảng chữ lễ là thứ tự đơn giản. Cái Lễ của Vân Trường thì lại quá hoả và phức tạp. Cho nên cứ mỗi lần vấp phải việc gì xúc phạm đến tính cách phức tạp ấy là Quan Vũ nổi giận. Nếu nói rằng: “Lễ” là vào chỗ nào nên tìm biết điều cấm kỵ, vào nước nào nên hỏi phong tục, vào nhà nào nên tránh những huý kỵ thì Vân Trường không hợp được với chữ Lễ theo nghĩa đó.

– Về chữ “Tín”, Vân Trường thật là con người trung tín, nhưng trung tín của Vân Trường cũng chỉ hẹp hòi thu vào quan hệ giữa cá nhân. Tỉ dụ như việc bỏ Tào trở về với Lưu Bị, tha Hoàng Trung để trả nợ kẻ không nỡ bắn mình, thái độ đối với Tào Tháo ở Hoa Dung tiểu lộ. Đến vụ Kinh châu thì chữ Tín kia mất hẳn. Khổng Minh mặc dầu vì nhu yếu chính trị nên trên sự thật không trả Kinh Châu, nhưng trên danh nghĩa bao giờ Khổng Minh vẫn dùng chữ mượn vì sẽ trả. Trái lại Vân Trường hành động ngược hẳn với đường lối của Khổng Minh.

– Về chữ “Nhẫn”, Vân Trường hoàn toàn thua sút. Suốt đời Vân Trường, vui hay giận đều vút cao lên quá mức. Sách Luận ngữ dạy: Tiểu bất nhẫn tất loạn đại mưu (không nhẫn nổi sự việc nhỏ tất hại cho kế lớn). Thất bại Kinh Châu làm sụp đổ toàn sự nghiệp gây dựng bao năm trời của Lưu Bị do bởi tính thiếu đức nhẫn của Vân Trường mà nên. Người xưa chủ trương “Mười năm đèn sách, mười năm nuôi khí chất”. Mười năm đèn sách đem lại Trí, mười năm nuôi khí chất tạo thành đức nhẫn. Đức nhẫn quan hệ vô cùng đối với chính trị. Vân Trường gan dạ nhưng thiếu kiên nhẫn.

– Đến các chữ Trung, Thứ, Dũng, đọc Tam quốc chí diễn nghĩa ta thường thấy hiện lên nhân vật Quan Vân Trường đủ cả, có điều đáng tiếc là phần lớn chúng đều bị Vân Trường sử dụng sai chỗ.

Đọc Tam quốc chí diễn nghĩa, đến đoạn Hoa Dung tiểu lộ. Quân Tào Tháo người ngựa sau khi thất trận Xích Bích chạy đã mệt nhoài, hốt nhiên tới Hoa Dung gặp quân mai phục của Vân Trường. Quân Tào Tháo nhìn thấy ba hồn bảy vía lên mây ngơ ngác nhìn nhau. Tháo muốn liều chết đánh nhưng Trình Dục tiến lên can rằng:

– Tôi vẫn biết Vân Trường vốn kiêu ngạo với người trên, nhưng không chấp kẻ dưới, coi thường người khoẻ nhưng không nỡ hiếp kẻ yếu, ân oán phân minh, tín nghĩa rõ ràng. Thừa tướng khi xưa có ân tình với ông ấy, nay nên thân ra cầu hoà mới thoát được nạn này.

Lời Trình Dục với việc Quan Vũ tha Tào đã nói lên rõ ràng cái nghĩa khí sắp đặt sai chỗ của Quan Vân Trường vậy.


Nói chuyện Tam Quốc- Vũ Tài Lục

maxreading.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s