Sự thật về Bao Công xử án

bao cong

Tuy Bao Công là vị quan thanh liêm và xử nhiều vụ án nổi tiếng nhưng hầu hết những vụ án được sách vở và phim ảnh truyền bá đều là hư cấu

Ngoài 2 chuyện được chép trong chính sử ra, những vụ xử án nổi tiếng khác của Bao Công như “Chém Bao Miễn”, “Xử án Trần Thế Mỹ”, “Trảm Bàng Dục”… thì đều là tuồng tích “diễn dịch”, kiểu “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”.

Tra hết gia phả cũng như khu mộ gia tộc họ Bao không thấy có ai tên Bao Miễn. Bao Công lại là con một, không có anh em nên không thể có cháu ruột. Còn Trần Thế Mỹ là nhân vật có thật nhưng lại ở vào đời… Thanh, cách Bao Công đến hơn 600 năm.

Trần Thế Mỹ tên thật là Niên Cốc, tên khác là Thục Mỹ, người huyện Quân (nay là thành phố Đan Giang Khẩu, tỉnh Hà Bắc). Ông đậu tiến sĩ vào năm Thuận Trị thứ 8 (1651), từng làm Án sát sứ, Bố chính sứ ở Quý Châu, là người liêm khiết có tiếng.

Cũng như Chu Du là nạn nhân của La Quán Trung, Trần Thế Mỹ là nạn nhân của 2 người bạn là Cừu Mộng Lân và Hồ Mộng Điệp – tác giả của vở hý khúc “Tần Hương Liên ôm tỳ bà” được soạn từ “Tỳ bà ký”, oán trách Thế Mỹ tham giàu sang phụ nghĩa bạc tình, cuối cùng bị… Bao Công chém.

Tiểu thuyết, sân khấu dân gian cũng làm điên đảo trắng đen, ngay gian lẫn lộn. Nhân vật phản diện “Bàng thái sư” tuy được lấy nguyên hình từ gian thần Trương Nghiêu Tá nhưng tai tiếng thì Bàng Tịch lãnh đủ.

Bàng Tịch (988-1063) là trung thần, tài giỏi, đậu tiến sĩ năm 1015, là thầy của Địch Thanh, Tư Mã Quang, bạn của Phạm Trọng Yêm, Hàn Kỳ, làm quan đến Khu mật sứ – tương đương Tể tướng, nhiều lần thẳng thắn can gián vua và ái phi, được gọi là “Thiên tử Ngự sử”. Ông có con là Bàng Nguyên Anh, cháu là Bàng Cung Tôn đều làm quan, không có ai là Bàng Dục phạm tội bị Bao Công chém cả.

Về phá án, trong chính sử chỉ chép 2 vụ liên quan đến Bao Công. Một vụ lúc ông làm tri huyện Thiên Trường và một vụ khi đã đứng đầu Tri gián viện

Vụ án huyền thoại: Mạo danh thái tử

Đây là vụ án có thật làm chấn động triều dã, là gốc tích để truyền thuyết dân gian, tiểu thuyết, sân khấu… dựng thành “Ly miêu tráo thái tử”, “Đả long bào” hay “Bao Công xử án Quách Hòe” nổi tiếng mà ai cũng nghe qua.

Nguyên là vua Tống Nhân Tông Triệu Trinh lên ngôi năm Càn Hưng nguyên niên (1022) lúc 13 tuổi, tại vị đến 42 năm. Trong hậu cung, vua lập phi tần, mỹ nữ vô số nhưng đáng buồn chỉ có 2 con trai nhưng đều chết khi còn rất nhỏ. Nhân Tông vô cùng đau khổ và chuyện có hoàng tử nối nghiệp trở thành đại sự của triều đình.

Vào tháng 4 năm Hoàng Hựu thứ hai, cả kinh thành bỗng trở nên vô cùng náo nhiệt, ở đâu cũng bàn tán chuyện hoàng tử lưu lạc trong nhân gian đang đi tìm gặp hoàng đế. Theo đó, một thanh niên tên là Lãnh Thanh, tự xưng là hoàng tử, cùng đi với một đạo sĩ ở Lư Sơn tên Cao Kế An, đến khắp lục bộ đòi vào cung gặp vua để nhận tông thân. Lãnh Thanh nói rằng mẹ là Vương thị, vốn là cung nữ trong cung, từng được vua Nhân Tông “lâm hạnh” và ban cho “Long phụng tú”, tức tấm lụa che bụng lúc ân ái.

Lãnh Thanh tướng mạo khôi ngô, tuấn tú, cử chỉ khoáng đạt, ăn nói dõng dạc, đến đâu cũng xưng hoàng tử, lúc nào cũng có đám đông hiếu kỳ vây quanh, thậm chí nhiều quan viên thấy phong thái của Lãnh Thanh cũng sinh lòng nể sợ, cho là “long chủng”.

Số cung nữ nhập và xuất cung hằng năm đều rất đông, ngay hoàng đế cũng không thể xác quyết có hay không trường hợp “lọt sổ” hy hữu này. Vua lại đang khao khát hoàng nam. Nếu đúng là có thì đây là phúc lớn của hoàng triều nhà Tống. Sau khi suy xét, Tống Nhân Tông truyền chỉ chuyển vụ án này cho quan chưởng quản Tri gián viện là Bao Công cùng Hàn lâm học sĩ Triệu Khái nhanh chóng điều tra.

Đúng như Lãnh Thanh nói, mẹ y vốn là cung nữ, nhập cung được 3 năm thì xuất cung, sau đó kết hôn với một người bán thuốc tên là Lãnh Tự, sinh con gái đầu là Lãnh Diễm, tiếp theo là Lãnh Thanh. Bao Công thẩm vấn Vương thị mới biết Lãnh Thanh từ nhỏ không chịu học hành, ăn chơi lêu lổng, lớn lên không nghề nghiệp, chẳng biết phiêu du nơi đâu. Hỏi về tấm long phụng tú vua ban, Vương thị tìm không thấy, mới biết là Lãnh Thanh đã cầm đi. Bao Công nghi hoặc, Lãnh Thanh chẳng có học hành, sao có thể nghĩ đến chuyện mạo xưng thái tử.

Bao Công cho bắt 2 thầy trò Lãnh Thanh tách riêng để thẩm vấn. Khi gặp Bao Công, Lãnh Thanh vẫn dõng dạc xưng mình là hoàng tử. Bao Công hỏi: “Mẹ ngươi đúng là từng ở trong cung nhưng ngươi rõ ràng là có một chị gái, sao chị ngươi không xưng là công chúa mà ngươi lại dám nhận là hoàng tử?”. Lãnh Thanh cứng họng.

Bao Công tiếp tục truy vấn, Lãnh Thanh khiếp uy đành cúi đầu nhận tội là đã nghe theo lời của Cao Kế An. Nếu sự việc trót lọt, Lãnh Thanh được vua Nhân Tông nhận trở thành thái tử rồi kế vị hoàng đế thì Cao Kế An chắc chắn sẽ là nhất phẩm đại thần trong triều. Từ đó, Cao Kế An huấn luyện cho Lãnh Thanh cách đi đứng, ăn nói thật giống bậc vương giả, ngày ngày đều tập diễn luyện đóng vai hoàng tử cho thuần thục. Lại dặn dò Lãnh Thanh nếu vạn nhất chuyện không thành thì cứ giả dạng điên cuồng là xong. Không ngờ gặp phải Bao Công quá cao tay đã sớm lật tẩy màn kịch.

Sinh thời, Bao Công từng nói: “Nếu chỉ lo giữ cho mình trong sạch mà không thấu dân tình, không làm điều lợi, bỏ điều tệ, tạo phúc cho dân thì cũng chỉ như tượng trong miếu mà thôi”

Từ việc đào giếng, sửa đường, làm cầu, cứu nạn dân cho đến cải cách quan chế; thực hiện tân pháp; thay đổi chính sách thuế má, lao dịch; đấu tranh với đại thần; can gián cả vua, Bao Công đều thực hiện nhằm một mục đích: “Lợi dân”. Chính như lời tấu của ông: “Dân là gốc của nước, tiền của từ dân mà ra, an nguy gắn liền theo đó. Cho nên phải lấy việc yên dân làm trọng”.

Vì dân, chí công vô tư

Từ tiểu thuyết, sân khấu đến phim ảnh đều gắn liền hình tượng Bao Công phá các đại án với thời gian làm Phủ doãn phủ Khai Phong (tương tự Thị trưởng Bắc Kinh ngày nay). Kỳ thực, Bao Công chỉ giữ chức này hơn 1 năm và công lao lớn nhất của ông là cải cách hành pháp và quy hoạch lại kinh thành để khỏi nạn ngập nước.

Năm Diên Hựu nguyên niên đời Tống Nhân Tông (1056) có lũ lớn, con sông Huệ Dân chảy giữa thành Khai Phong nước dâng ngập một nửa phía Nam kinh thành. Bao Công thân hành đi vào trong dân tìm hiểu mới biết nguyên nhân là do các nhà quyền thế, giàu có mặc sức xây dựng đình đài, hoa viên lấn chiếm hết dòng chảy của sông.

Ông lập tức dâng tấu, được vua Nhân Tông phê chuẩn, ông liền ra lệnh giải tỏa trắng những công trình lấn chiếm, không kể của kẻ tai to mặt lớn nào, thực hiện quy hoạch lại kinh đô. Các con nhà quyền quý ở Khai Phong thấy thế đều răm rắp dẹp bỏ những công trình sai phạm.

Vào thời điểm ấy, ở Khai Phong, nạn ăn hối lộ rất phổ biến, gọi là “đi cửa sau”. Bao Công về làm Phủ doãn, trước hết bản thân ông đoạn tuyệt các mối quan hệ, thư từ với người thân và quan lại cấp cao, chỉ giải quyết việc công.

Ông ra lệnh luôn mở rộng công môn, người đến khiếu kiện được kêu oan, trực tiếp vào gặp tri phủ, đứng dưới công đường trình bày sự việc, đồng thời trừng trị rất nghiêm khắc những nha lại vòi tiền. Ở kinh thành lưu truyền câu cửa miệng: “Quan tiết bất đáo, hữu Diêm La Bao lão”, ý là ở Khai Phong đừng hòng “đi cửa sau” vì có Bao lão gia chấp pháp nghiêm minh như Diêm Vương.

Đời tư đau buồn

Vợ cả của Bao Công là Trương thị, không có con. Vợ thứ – Đổng thị – là cháu của nguyên “Tể tướng 3 triều” Lữ Mông Chính, sinh được 1 trai là Bao Ý và 2 gái. Bao Ý được tập ấm làm Thái thường tự Thái chúc nhưng mới kết hôn với Thôi thị được 2 năm thì bị bệnh qua đời, để lại con trai là Bao Văn Phụ. Không ngờ Phụ mới lên 5 tuổi thì chết yểu. Bao Công liên tiếp mất đi con trai và cháu đích tôn, không người nối dõi tông đường nên vô cùng đau đớn. May mà có Thôi thị là dâu hiền, hết lòng chăm sóc cha mẹ chồng.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: