Tào Nhân- chiến tướng Tài Đức vẹn toàn

tao nhan

Tam quốc là thời kì binh hoang mã loạn, anh hùng hào kiệt ra sức tranh đoạt thiên hạ. Như Tào Tháo (Tào Mạnh Đức) vẫn thường nói “thời buổi loạn lạc là lúc anh hùng hào kiệt được sanh ra”, quả đúng là như vậy. Thời Tam quốc đã sanh ra nhiều dõng tướng lưu danh thiên cổ, mỗi người một vẻ.

Đúng là “Loạn huê tiệm dục mê nhơn nhãn” nha!

Trong các tướng lãnh thời kì nầy Tiêu khoái nhứt là tướng Tào Nhơn của phe Ngụy không chỉ vì tài năng mà cả vì đức độ của vị tướng nầy. Do Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung quá phổ biến mà ông thầy họ La nầy “cuồng” phe Thục, kháng phe Tào quá chừng mà hình ảnh anh hùng của tướng Tào Nhơn không được đề cao và người đời sau ít khi nhận định đúng và đủ về danh tướng nầy.

Tào Nhơn là công thần hạng nhứt của nước Ngụy, sanh năm Kiến Ninh nguơn niên (168 STL) mất năm Huỳnh Sơ thứ 4 (223). Tào Nhơn có tên tự là Tử Hiếu.

Trong Ngũ Kinh của Thầy Khổng có sách Lễ Kí (thường gọi Kinh Lễ) đề cập tới tên tự của một người, đó là tên của một người khi đủ 20 tuổi. Từ thời Châu việc đặt tên tự nầy đã rất phổ biến trong giới quới tộc và thành phần có ăn học để thể hiện sự tôn kiếng trong giao tiếp. Tên tự và tên thiệt có liên hệ mật thiết với nhau sao cho “nhắc tới tên tự thì biết tên thiệt” vậy. “Hiếu” là đức đứng đầu trong đạo làm người, tướng Tào Nhơn chọn tên Tử Hiếu cũng là do vậy.

Rất nhiều sách vở viết trong thời kì nầy có chép về nhơn vật Tào Nhơn mà tánh xác thực lịch sử là khả tín. Tam quốc chí của Trần Thọ là một trong những sách như vậy. Tam quốc chí của Trần Thọ là “trung thuyết” nếu so với “tiểu thuyết” Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung tuy đọc có hơi chán vì ít văn vẻ nhưng mà tánh xác thực lịch sử đáng tin cậy hơn nhiều.

Tào Nhơn là em họ Tào Tháo nhưng hai người nầy không chung nhau một giọt máu nào (vì cha của Tào Tháo là con nuôi của nhà họ Tào). Tào Tháo còn có hai người em họ làm tướng dưới trướng là anh em Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên; hai người nầy thì đúng là anh em họ của Tào Tháo theo huyết thống.

Tào Nhơn sanh ra trong gia đình quyền thế, thuở nhỏ cũng ham chơi hơn ham học y như ông anh họ Tào Tháo (nhưng mà không tới nổi phá làng phá xóm, bắt cóc cô dâu như ông anh Tào Tháo). Tào Nhơn vốn ham cưỡi ngựa, săn bắn và thường kết giao rộng rãi với anh hùng hào kiệt. Tới khi giặc Huỳnh Cân nổi loạn thì ổng cũng tham gia đánh dẹp, lập được công.

Khi Tào Tháo hành thích Đổng Trác (Đổng Trọng Dĩnh) thất bại nên trốn về quê nhà viết hịch kêu gọi chư hầu chống giặc Đổng thì Tào Nhơn có dẫn khoảng ngàn tráng sĩ theo hầu ông anh họ.

Tào Tháo từ phận phạm nhơn bị lịnh truy nã, không có một binh một chốt cho tới khi lên làm Ngụy Vương thì công lao của tướng Tào Nhơn nầy có thể nói là đầu bảng vậy. Sự nghiệp của Tào Tháo không phải dễ dàng mà có, cũng phải trãi qua trăm đắng ngàn cay, dụng tâm lương khổ, chịu nhiều đau thương mới có được. Từ “cái xó Duyễn Châu” (trước là nước Lỗ, thuộc tỉnh Sơn Đông ngày nay – quê hương của Thầy Lỗ Ban) cho tới khi quyền lực trùm thiên hạ phải trãi qua trăm ngàn trận chiến, trong đó có rất nhiều lần phải lâm cảnh lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều mà hầu như chiến dịch lớn nào cũng có tướng Tào Nhơn tham gia nơi tuyến đầu cả.

Năm Kiến An nguơn niên (196), Tào Tháo “cứu” Thiên tử thực hiện kế sách “Hiệp Thiên tử, dĩ lịnh chư hầu” để xác lập vị thế tạo tiền đề xưng Bá sau nầy. Trong chiến dịch nầy vì có công lao nên Tào Nhơn được Hớn Hiến Đế ban chức Thới thú Quảng Dương, từ đây coi như được “vô biên chế”, ăn lương nhà nước; lúc nầy Tào Nhơn 28 tuổi.

Tào Tháo thấy thằng em họ xốc vác của mình làm quan giữ quận thì “phí” tài năng quá nên mượn lời Thiên tử cho làm chức Nghị lang Đốc quân kị rồi dẫn đi nam chinh bắc chiến khắp nơi. Chiến công của tướng Tào Nhơn nhiều không kể hết, ở đây Tiêu chỉ muốn nói một vài chiến công lớn nhỏ khác nhau mà qua đó thể hiện được tài và đức của viên tướng nầy thôi.

Trong chiến dịch vây Hồ Quan, Tào Tháo bực bội vì thành nầy quá “lì” nên ra lịnh cho Nhơn “hạ được thành thì giết sạch không chừa nha”. Nhơn nhận thấy ép quá thì “chó cùng cắn dậu” dồn người ta vô đường cùng thì phe nhà cũng thiệt hại không nhỏ đâu, “sát nhơn nhứt vạn, tự tổn tam thiên” mà. Vậy là tướng Nhơn xin về Tào Tháo phê duyệt cho: chừa thành nầy một con đường sống. Tào Tháo phê duyệt, tin nầy loan ra nên thành nầy đã qui hàng, đỡ tốn biết bao xương máu. Nhờ công lấy thành nầy nên Tào Nhơn được ban tước Hầu.

Qua câu chuyện trên ta thấy tướng Tào Nhơn có tấm lòng nhơn ái chớ không phải hạng võ phu hung hăng háo sát vậy.

Năm Kiến An thứ 5 (200), trong trận chiến lớn nhứt thời Tam quốc – Quan Độ chi chiến ghi nhận Tào Tháo có 7 vạn quân đối đầu với 70 vạn quân Viên Thiệu (Viên Bổn Sơ), còn theo ước tính hiện đại thì tỉ lệ là Tào 4 vạn đấu Viên 14 vạn. Quân Tào quân ít hơn quân Viên tới mấy lần vậy mà còn không đủ lương ăn luôn. Viên Thiệu giàu gì mà giàu dữ, quân đã đông mà lương còn dồi dào nữa, quá giàu!

Trận chiến nầy quyết định sự tồn vong của phe Tào nên không thể không có phần của tướng Tào Nhơn được. Tào Nhơn vốn được công nhận là tướng phòng thủ giỏi nhứt của Tào Tháo nên được điều động ra mặt trận để chỉ huy thế trận phòng thủ cho anh mình. Chiến dịch nầy hai bên giằng co nhau ghê lắm chớ không phải như trong phim Tam quốc năm 2010 là Tào Tháo “một trận định càn khôn” đâu. Nếu bạn muốn coi chiến dịch nầy giống lịch sử thì coi phim Tam Quốc năm 1996 thì sẽ sát hơn.

Quân Viên đông hơn nhưng không tài nào thắng quân Tào được. Quân Viên quấy phá suốt ngày, hết “minh kế” thì quân Viên lại dùng “ám kế” để xâm nhập trại Tào cũng đều thất bại hết. Quân Tào chịu “lép” trước quân Viên đông hơn, mạnh hơn nhưng vẫn giữ được thế trận phòng ngự vững chắc là công rất lớn của tướng Tào Nhơn vậy.

Trong lúc chiến sự giằng co ở mặt trận thì Viên Thiệu đã sai Lưu Bị (Lưu Huyền Đức) đánh lén phía mặt sau lãnh thổ của phe Tào. Quân Tào đã ít, lương thì thiếu, lại bị đánh cả hai mặt tình thế hết sức khó khăn. Lưu Bị lúc nầy biết quân Tào đã ra mặt trận hết rồi nên dung dăng dung dẻ thả sức quấy phá nào ngờ đâu tướng Tào Nhơn đã hành quân thần tốc về mặt sau lãnh thổ đánh cho tan tác. Chổ nầy ông Tào Tháo “xài” người khó hiểu quá, ổng thiếu gì tướng giỏi mà Lưu bán dép lúc chưa có Từ Thứ (Từ Nguơn Trực) thì toàn chỉ biết thua thôi chớ có gì ghê gớm mà phải phái tướng Tào Nhơn về dẹp mới chịu. Thiệt khó hiểu à!

Dẹp sạch hậu phương xong thì Tào Nhơn lập tức quây về chiến tuyến giúp anh mình tổ chức phòng thủ ở mặt trận Quan Độ. Viên Thiệu thấy quân Tào xốc vác quá nên cảm thấy “ớn lạnh”, không dám đánh vô mặt sau phe Tào nữa mà chỉ tập trung toàn tâm vô chiến trường Quan Độ mà thôi. Cũng nhờ vậy mà sau nầy Viên Thiệu đã không chịu áp dụng kế sách của Hứa Do (Hứa Tử Viễn) chia quân ra đánh úp Hứa Đô của Tào. Nếu không thì Tào Tháo thua là chắc luôn.

Chiến dịch Quan Độ ghi nhận thắng lợi rực rỡ của Tào Tháo, kinh điển cho chiến lược lấy ít địch nhiều trong nghệ thuật quân sự cho tới ngày nay. Cũng qua chiến dịch nầy ta thấy được Tào Tháo có thằng em họ “chạy như ngựa”, tháo vác và tận tụy với công việc quá chừng.

Kiến An năm thứ 13 (208), Tào Tháo thất bại nặng ở chiến dịch Xích Bích trước quân Giang Đông. Chiến dịch nầy Tào Nhơn không có tham gia mà lúc nầy Nhơn đương nhận chức Chinh Nam Tướng quân giữ thành Nam Quận hây còn gọi là Giang Lăng tại Kinh Châu. Kinh Châu gồm địa giới hai tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam ngày nay là ngã ba Tam quốc nên có vị trí vô cùng quan trọng. Tào Tháo sai Tào Nhơn giữ địa thế quan trọng nầy có thể thấy niềm tin của Tào Tháo dành cho em mình là lớn tới cỡ nào.

Thành Nam Quận nầy chánh là trụ sở của Kinh Châu, vậy nên có nhiều tài liệu khi gọi giữ Nam Quận cũng còn gọi là giữ Kinh Châu với ý nghĩa như nhau. Tào Tháo vừa thua nặng trận Xích Bích thì đương nhiên Kinh Châu là lãnh thổ đầu tiên phải bị đe dọa nên nhiệm vụ của tướng Tào Nhơn lúc nầy hết sức nặng nề.

Đúng như kế hoạch, sau khi thắng Xích Bích thì Châu Do (Châu Công Cẩn) liền cho binh đánh chiếm Kinh Châu liền. Khi mấy ngàn binh tiên phuông của Đông Ngô vừa tới, khí thế ngút trời. Tào Nhơn cho quân sĩ phòng thủ cẩn thận nhưng “không lẽ quân giặc tới mà không có ai ra đánh” thì coi không được. Lúc nầy một tướng thuộc hạ của Tào Nhơn tên là Ngâu Kim (Trâu Vàng, không rõ tên tự) xin nhận 300 binh (còn theo truyện Tam quốc diễn nghĩa thì là 500) ra chọi với mấy ngàn binh tiên phuông tinh nhuệ của Đông Ngô.

Anh Ngâu Kim nầy cũng thiệt là anh dõng, ảnh xung phong ra đánh coi như muốn thử sức giặc cũng được mà gọi là thí mạng cũng không sai. Do lấy ít địch nhiều nên 300 binh của Ngâu Kim bị quây lại đánh rất rát. Đứng trên thành nhìn xuống thấy từng binh sĩ Tào Ngụy gục xuống, tướng Tào Nhơn thấy không đành lòng nên ra lịnh cho người chuẩn bị ngựa để tự mình dẫn binh ra cứu Ngâu Kim cùng các binh sĩ.

Các quan binh trên thành ra sức ngăn cản tướng Nhơn với lí lẽ: “Giặc đông thế thạnh, không sao đương nổi. Tỉ như mất mấy trăm binh thì có gì là cay với đắng mà Tướng quân phải đem thân tới chổ nguy hiểm đó!”. Mặc kệ những lời khuyên can, tướng Nhơn nhứt quyết ra cứu. Khi cổng thành mở ra, mọi người trên thành cớ tưởng tướng Nhơn dẫn binh ra đứng bên trong con hào để tăng oai thế cho binh sĩ bên ngoài thôi chớ có ngờ đâu tướng Nhơn dẫn mấy chục binh tình nguyện đã xông thẳng vô giữa vòng vây quân Ngô thiệt. Quan binh trên thành nhìn sợ xanh mặt.

Tướng Nhơn tả xung hữu đột đánh thốc vô giữa vòng vây chụp Ngâu Kim (lúc nầy ảnh hết “trâu” rồi) thẩy lên ngựa chở vô bên trong con hào. Tưởng vậy đã là thôi, không ngờ tướng Nhơn quăng Ngâu Kim xuống rồi lại quây ra ngoài đánh tiếp để cứu từng binh sĩ còn mắc kẹt giữa vòng vây. Mặc dầu mấy anh lính bị vây kia chỉ là lính vô danh tiểu tốt nhưng tướng Nhơn cứu hết, không bỏ người nào. Thấy tướng Tào ghê gớm quá nên binh Đông Ngô cũng “ớn sườn” nên quyết định rút lui để chờ mấy vạn đại quân của Châu Do tới. Vậy là tất cả các binh sĩ của Ngâu Kim còn sống sót đã được Tào Nhơn cứu hết về thành.

Lúc nầy thì quan binh trên thành một lòng cảm phục tướng Tào Nhơn, đồng thanh cho rằng: “Tướng quân thiệt là người nhà Trời nha!” Tin nầy bay về tới Hứa Đô, Tào Tháo khoái quá phong cho Tào Nhơn tước An Bình Đình Hầu (mà không cho một binh một chốt nào tiếp viện hết, sợ ông anh nầy luôn!)

Cái mạng của Ngâu Kim là do chủ soái Tào Nhơn lượm về, ảnh thiệt là may mắn khi theo hầu Tào Nhơn chớ nếu hầu tướng khác chắc mạng ảnh không còn rồi. Ngâu Kim sau nầy lập được nhiều công lắm, có lần đã dí Chư Cát Lượng (Chư Cát Khổng Minh) tới Kì Sơn mới thôi. Tội nghiệp Ngâu Kim, sau nầy chỉ vì trung thành với họ Tào mà đã bị Tư Mã Ý (Tư Mã Trọng Đạt) ép phải uống thuốc độc tự sát.

Trận phòng thủ Nam Quận nầy của tướng Tào Nhơn rất là hây nhưng khi dựng phim Tam Quốc năm 1996 thì không thấy, 2010 thì lại dựng Tào Nhơn cho Ngâu Kim ra thí mạng để quân Ngô mệt mỏi rồi sau đó tung toàn bộ 1 vạn rưỡi quân trong thành ra giết sạch 5 ngàn quân Ngô. Dựng kiểu nầy thì kịch tánh nhưng không thấy được lòng yêu thương binh sĩ của tướng Tào Nhơn vậy. Tiêu rất khoái ông tướng nầy nên phim dựng như vậy làm Tiêu cảm thấy vô cùng hụt hẫng.

Nói tiếp về chiến dịch nầy, trong tình cảnh vô cùng khó khăn, binh ít lương thiếu mà quân giặc thì vừa đông vừa mạnh lại không được tiếp viện gì từ hậu phương. Do phe Tào mới thua Xích Bích, te tua quá nên Tào Tháo biết trước sau gì Nam Quận cũng mất nên không muốn tiếp cứu làm chi, để mặc cho Tào Nhơn tự xoay trở, giữ được bao lâu thì giữ. Khó khăn chồng chất như vậy mà Tào Nhơn vẫn có thể khéo léo dùng kế “giả thua” nửa đêm bỏ thành dụ cho quân Ngô xông vô thành rồi quây lại nội công ngoại kích. Quân Ngô thua tan nát, Đại Đô đốc Đông Ngô – Châu Do cũng bị trúng tên xém chết trong trận nầy.

Một hình ảnh cực kì vui nhộn là khi Châu Do trúng tên phải về trại an dưỡng thì Tào Nhơn lại dẫn binh sĩ tới trước trại quân Ngô khiêu chiến. Tướng Tào Nhơn cưỡi ngựa đi tới đi lui, đi tới đi lui ngoài cổng trại quân Ngô cầm roi chỉ trỏ kêu Châu Do đầu hàng, nghỉ việc Đô Đốc ở nước Ngô đi, rồi sẽ kiếm cho một công việc khác ngon hơn. Việc tốt lương cao mà Tào Nhơn nói đó là… “nuôi ngựa”. Châu Do giả bộ tức quá, rớt xuống ngựa chết, binh sĩ Ngô khóc vang trời. Ai mà ngờ đó là kế “giả chết” của Châu Do, Tào Nhơn mắc bẫy tối đó tới cướp trại bị dính mai phục mà thất bại. Khi chạy về thành Nam Quận thì thành đã bị Chư Cát Lượng cho binh sĩ cướp mất rồi. Vậy là quân Tào mất Kinh Châu luôn. (Vụ nầy thường được gọi là “mượn Kinh Châu”.)

Sau khi để mất thành, Tào Nhơn viết biểu gởi về trào xin nhận tội nhưng Tào Tháo đã không những không phạt mà còn khen ngợi tướng Nhơn. Vì bởi lẽ theo phân tách của Tào Tháo, trong tình cảnh khó khăn tứ bề vậy mà Tào Nhơn cũng có thể giằng co với quân Ngô lâu tới vậy, thời gian đó đủ để Tào Tháo chấn chỉnh lại quân đội Trung nguơn để bảo vệ những phần lãnh thổ còn lại. Việc Tào Nhơn để mất Kinh Châu là chuyện không sớm thì muộn, không thể tránh khỏi nhưng Tào Nhơn để mất vào tay quân Thục thì đó thiệt là công lớn à! Như lời của Tào Tháo và Tuân Úc (Tuân Văn Nhược) trong phim Tam quốc 2010 thì:

“Tào Nhơn đã làm quá tốt, trong tình cảnh khó khăn mà có thể đánh cho quân Ngô te tua thê thảm, chút xíu nữa là giết được Châu Do luôn vậy nhưng lại để thành mất vô tay quân Thục. Việc nầy không khác chi quăng khúc xương cho hai con chó giành nhau. Con chó yếu hơn (chỉ quân Thục) nhưng lại nhanh hơn nên giành được xương thì con chó khỏe hơn (chỉ quân Ngô) làm sao mà chịu được. Sớm muộn gì liên minh Tôn – Lưu cũng rã đám mà trở mặt đánh nhau thôi. Quấu, quấu quấu…”

Đúng là như Tào Tháo đã tính, sau nầy hai nhà Ngô – Thục đã vì Kinh Châu nầy mà trở mặt đánh nhau thiệt. Chiến dịch nầy trong chánh sử ghi nhận thì Tào Tháo đã hạ lịnh cho Tào Nhơn chủ động rút lui về Tương Dương để tránh tổn thất và để Kinh Châu lại cho Ngô, Thục giành nhau.

Kiến An năm 24 (219), sau khi lấy được Tây Xuyên, Lưu Bị đánh bại Tào Tháo tại Hớn Trung, kiểm soát luôn toàn xứ Đông Xuyên. Lưu Bị tự xưng Hớn Trung Vương, thế lực của Thục lúc nầy rất lớn. Tới đây thì Long Trung kế sách của Chư Cát Lượng cơ bổn là đúng lộ trình. Phe Ngụy lúc nầy quả thiệt là tình cảnh vô cùng thê thảm.

Lúc nầy tướng Tào Nhơn đương giữ Phàn Thành. Phàn Thành nằm giáp giới ở phía bắc Kinh Châu của quân Thục. Đây chánh là tấm lá chắn quan trọng nhứt của nước Ngụy, nếu như Phàn Thành bị mất thì kinh đô Hứa Xương của Tào Tháo sẽ lâm nguy. Tào Tháo quyết định cho tướng Tào Nhơn giữ địa bàn nầy cho thấy tầm quan trọng bậc nhứt của Phàn Thành và cũng cho thấy được sự tin tưởng mà Tào Tháo dành cho tướng Tào Nhơn lớn tới cỡ nào. Mà ông Tào Tháo nầy toàn giao mấy chổ nguy hiểm cho thằng em họ Tào Nhơn giữ thôi, mấy chổ “ngon ngon” thì giao cho người khác (chơi ép Tào Nhơn quá vậy?)

Kinh Châu lúc nầy thuộc quản lí của Quan Võ (Quan Vân Trường) – người vẫn thường tự xưng là “thiên hạ đệ nhứt mãnh tướng”. Quân Kinh Châu do Quan Võ huấn luyện bao năm qua cũng có tiếng là thiện chiến còn quân Tào thì vừa đại bại ở Hớn Trung nên sĩ khí suy sụp nặng.

Dã tâm xâm chiếm Trung ngươn mà trước nhứt là Tương Dương và Phàn Thành của Quan Võ thì chưa bao giờ dứt. Tận dụng tình thế thuận lợi mà Lưu Bị đã tạo ở mặt trận phía tây trong trận Hớn Trung nên Quan Võ quyết định “thừa thắng xông lên” đánh chiếm Tương Dương và Phàn Thành. Quan Võ nhanh chóng lấy được Tương Dương, còn Phàn Thành bây giờ thì bị vây. Lúc nầy tướng Tào Nhơn phải đối mặt với cường địch trong tình thế hết sức khó khăn.

Quân Tào thì ít mà quân Kinh Châu (quân Thục) thì đông nên tướng Tào Nhơn quyết định không ra đánh mà quyết cố thủ giữ thành và chờ đợi viện binh. Quân Thục trèo lên thành tìm cách chiến đấu với quân Ngụy nhưng không xâm nhập được, xác quân Thục đã chất dầy dưới chưn thành mà Quan Võ vẫn không ngừng cho binh Thục trèo lên. Quân Ngụy trong thành thì ít mà quân Thục thì biển người nên lính Tào chiến đấu vô cùng mệt mỏi. Tướng Tào Nhơn tổ chức phòng ngự, trực tiếp lên thủ thành và động viên, an ủi binh sĩ.

Tổng cộng binh lính trong thành thì chỉ có vài ba vạn mà phải chống với mười mấy vạn quân của Quan Võ, tình thế khó khăn lại thêm cảnh thiếu thốn lương thực nữa. Nếu không có viện binh thì tướng Tào Nhơn không biết phải xoay trở làm sao nên cho quân cảm tử đột phá vòng vây thoát ra ngoài chạy về Hứa Đô xin cầu viện binh.

Như đã nói, Phàn Thành là tấm lá chắn quan trọng nhứt bảo vệ Trung nguơn về phương Nam. Nếu mất Phàn Thành thì tiếp theo sẽ là Nam Dương, rồi tới Hứa Đô, tiếp theo sẽ là Lạc Dương, khi đó thì Tào Tháo sẽ chỉ còn dẫn dân quân lên sống ở đất tộc dân du mục ở phương Bắc mà thôi. Tào Tháo không thể để mất Phàn Thành được nên phải tìm mọi cách giúp Tào Nhơn giữ thành nầy. Do vừa mới chịu tổn thất rất nặng ở mặt trận Hớn Trung nên Tào Tháo đành phải vét quân trong nước mà gởi đi cứu Phàn Thành. Quân gom tất cả được tám vạn, chia bẩy lộ quân do Vu Cấm (Vu Văn Tắc) làm Thống soái và Bàng Đức (Bàng Lịnh Minh) làm tướng tiên phuông đi cứu Tào Nhơn.

Vu Cấm vốn bấy lâu nay giữ chức tương đương “Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp” chuyên quản lí đồn điền chớ lâu rồi không cầm binh, đã vậy lại còn ganh tị và đố kị tướng Bàng Đức nữa nên không thể diệt được Quan Võ. Hai bên ghìm nhau, Vu Cấm cho toàn quân đóng doanh chỗ đất thấp. Mùa mưa tới, nước dòng Hớn Giang dâng cao. Quan Võ lợi dụng tình thế, cho lính đắp đập chặn dòng lùa nước lũ nhận chìm doanh trại quân Tào. Cả bẩy lộ quân đi giải cứu Phàn Thành đã bị diệt gọn, cái hòm mà Bàng Đức mang theo đã bị nước cuốn trôi đâu mất tiêu luôn rồi.

Lợi dụng dòng nước nầy, Quan Võ cho binh lính đắp thêm một vòng thành bằng đất bao quanh lấy Phàn Thành rồi cho binh sĩ đổ nước vô với ý đồ muốn nhận chìm thành nầy, bức Tào Nhơn phải hàng. Lúc nầy thì ở Hứa Đô, Tào Tháo đã rục rịch tính tới chuyện dời đô lên phía bắc để né Quan Võ.

Viện binh Vu Cấm tới, chưa giúp được gì đã bị diệt hết rồi. Trong thành vốn đã hết thức ăn giờ lại thêm nước ngập nữa, tướng Tào Nhơn và binh lính Phàn Thành lúc nầy khổ sở không sao kể xiết. Quan binh Tào phải quơ quào thức ăn để cầm cự cơn đói mà chống giặc. Đã có lúc tướng Tào Nhơn tính tới chuyện lấy thuyền để rút lui khỏi thành để bảo vệ binh sĩ nhưng nhờ lá thơ mà Tào Tháo cho người bắn vô thành trấn an về việc sẽ cử viện binh tới cứu nên binh tướng Phàn Thành có được nhiều niềm tin.

Nhìn cảnh quan binh nhịn đói lặn ngụp trong nước, gánh đất đá đi vá góc thành bị nước lũ làm sạt lỡ; tướng Tào Nhơn sợ binh sĩ ngã lòng nên cố gắng động viên từng người và giết cả con ngựa của mình để làm lễ tế thề một lòng một dạ cùng nhau sống chết với thành. Nói chuyện “tế lễ” thề là nói hình thức thôi chớ trong thành không còn gì ăn nữa đâu. Trong phim Tam quốc 2010, tín mã của Tào Nhơn phá vòng vây ra xin viện binh báo với Từ Hoảng (Từ Công Minh) là “Trong thành tới con chuột cũng đã ăn hết rồi. Nếu viện binh không tới thì chúng tôi chỉ còn cách ăn thịt người nữa mà thôi!”

Trong tình cảnh quân Tào khổ sở như vậy thì Quan Võ cưỡi thuyền tới gần mặt thành (ngập tới vậy đó!) để chiêu hàng Tào Nhơn nhưng Tào Nhơn và binh sĩ vẫn nhứt quyết sống chết với thành chớ không chịu hàng.

Diệt gọn bẩy lộviện binh của Vu Cấm rồi mà Phàn Thành của Tào Nhơn cũng chưa hạ được nữa, Quan Võ bực bội vô cùng. Lại nhận được tin Lữ Mông bên Đông Ngô mới “về hưu” nữa nên Quan Võ quyết định cho người về lấy hết 2 vạn binh lính đương giữ Kinh Châu ra để tổng lực hạ Phàn Thành.

Lúc nầy Tào Tháo ở Hứa Xương nhận được tin Đông Ngô đồng ý hiệp đồng tác chiến, sẽ đánh vô mặt sau Quan Võ tức phá thành Kinh Châu nên hi vọng cứu Phàn Thành lại sống dậy. Tào Tháo không tính chuyện dời đô nữa mà quyết chơi một ván tất tay: lấy hết binh còn lại, lấy luôn cả “Hổ Vệ quân” (thuộc hạ của Hứa Chử – Hứa Trọng Khang) chuyên bảo vệ mình mà giao hết cho tướng quân Từ Hoảng (Từ Công Minh) đi cứu Phàn Thành lần thứ hai rồi đích thân mình đem binh theo hậu ứng.

Nhờ sự mưu trí và lòng dõng cảm của mình Từ Hoảng đã đánh thắng Quan Võ một trận oanh liệt, tên tuổi oai chấn thiên hạ. Lúc nầy tướng Tào Nhơn cũng mở cổng thành rồi dẫn binh sĩ đi truy sát Quan Võ luôn, cả tướng cả binh chạy bộ hết, do ngựa bị ăn hết rồi. Cùng lúc ở Kinh Châu, sau khi lấy được thành thì Đô Đốc Lữ Mông cũng cho binh đi tìm diệt Quan Võ. Náo nhiệt vô cùng!

Giờ khi nhắc tới Tương-Phàn chi chiến thì người ta chỉ nhắc tới chiến công “bạch y độ giang” của Đô đốc Lữ Mông, chiến tích đánh bại Quan Võ của Từ Hoảng, cái hòm của tướng Bàng Đức hây chuyện Quan Võ ngạo mạn thới quá tự hại thân… chớ ít ai nhớ tới tướng Tào Nhơn gan lì đã nhịn đói cùng binh sĩ lặn ngụp trong nước lũ để giữ Phàn Thành. Trong phim Tam quốc năm 1996 và 2010 cũng vậy, hình ảnh tướng Tào Nhơn trong chiến dịch nầy cũng không để lại ấn tượng gì. Sự nầy là thiếu công bằng với tướng quân họ Tào vậy.

Công lao của tướng Tào Nhơn tuy người đời sau ít có cái nhìn công bằng nhưng với Tào Tháo thì không. Tào Nhơn chánh là vị tướng mà Tào Tháo đặt niềm tin nhứt. Những vị trí phòng thủ quan trọng nhứt, những chiến dịch khó khăn nhứt luôn có tên vị tướng này ở hàng đầu tiên. Tào Tháo vốn nổi tiếng “gian hùng”, ông biết rõ công lao, tài năng và lòng trung thành của tướng Tào Nhơn và nhắm sẵn vị trí thống lãnh ba quân lại cho Tào Nhơn nhưng ông không chịu phong cho Tào Nhơn luôn mà muốn để dành ơn huệ đó lại cho con mình là Tào Phi (Tào Tử Huờn – Ngụy Văn Đế sau nầy).

Tào Tháo muốn Tào Nhơn được lãnh chức từ Tào Phi và hết lòng với con mình. Quả đúng là Tào Tháo gian manh thiệt vậy, với người nhà mà ổng cũng chiêu trò nữa, sợ ổng luôn.

Tướng Tào Nhơn nầy thì cả đời tận tụy vì Chủ, chẳng tranh quyền đoạt lợi gì với ai. Chủ sai đi đâu thì đi đó, kêu làm gì thì làm luôn, chẳng thấy ổng kêu ca, phàn nàn gì bao giờ mà Tào Tháo toàn giao cho ông mấy nhiệm vụ nguy hiểm. Cả những lúc nguy nan nhứt ông cũng chỉ một lòng một dạ với Chủ chớ không có lăn tăn gì.

Tào Phi biết rất rõ lòng trung thành nầy nên khi khuyên răn em mình là Tào Chương (Tào Tử Văn) cũng lấy tên tuổi của ông ra để làm gương sáng; đại khái là muốn nhắc Tào Chương là dầu có nắm binh hùng tướng mạnh thì cũng nên học theo lòng trung thành của chú Tào Nhơn mà làm, như vậy mới đáng khen. Tào Phi viết: “Làm tướng vâng theo phép nước, chẳng phải là giống như Chinh Nam tướng quân đó sao?”

Tướng Tào Nhơn tánh hào sảng, khá thân thiện và hòa đồng với binh sĩ, yêu thương binh sĩ vô cùng. Vị tướng oai hùng coi cái chết nhẹ như lông hồng nầy có ngờ đâu cũng có lúc phải bị “mất mặt” trước mọi người. Chuyện là khi còn giữ Kinh Châu, Tào Nhơn có việc về Hứa Đô để gặp Chủ công Tào Tháo. Lúc nầy Tào Tháo chưa ra, Tào Nhơn cùng văn võ bá quan ngồi đợi. Vừa lúc nhìn thấy “con cọp ngu” (biệt danh của) Hứa Chử lửng thửng đi ngang qua liền kêu: “Ê, Trọng Khang! Lâu quá không gặp, ngồi xuống nói chuyện tào lao chơi!” Ai ngờ ông Hứa Chử (ông nầy “ba trợn” có tiếng luôn) chỉ đưa mắt nhìn rồi trả lời gọn lỏn: “Khỏi, Ngụy Vương sắp ra rồi” xong bỏ đi một mách, không thèm chào hỏi một câu.

Vừa là công thần đầu bảng, lại là tôn thất của Ngụy Vương mà tướng Tào Nhơn chịu hạ mình gọi Hứa Chử vậy mà ai ngờ bị cái ông “Si Hổ” nầy làm cho mất mặt trước văn võ bá quan luôn. Thiệt là tội nghiệp à!

Chổ Tiêu yêu quới nhứt vị tướng nầy không phải là vì những chiến công, lòng trung thành hây là sự tận tụy với công việc mà là ở tấm lòng thương yêu binh sĩ của vị tướng nầy.

Xưa nay Tiêu thường nghe chuyện binh sĩ liều mạng cứu chủ tướng, tướng xả thân để cứu soái đầy trong sử sách. Tiêu nào đã thấy đâu một thân chủ soái oai danh lẫm lẫm dám liều thân mình ra giữa chốn lập lòe ánh đao bóng kiếm để tự tay mình lôi từng binh sĩ ra khỏi trận như tướng Tào Nhơn. Sự nầy thì thiệt là “vô tiền khoáng hậu” luôn nha!



Tiêu
Viết ngày 25 tháng 6 năm Bính Thân

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s