Giải mã mặt trái của Tào Tháo

tao thao

Đường tới gian hùng

Chí ít là đến thời Đông Tấn, hình tượng Tào Tháo “năng thần thời trị, gian hùng thời loạn” đã được Tôn Thịnh nhắc tới

Các nhà nghiên cứu hiện đại dựa vào câu nói này đã chỉ ra: Tào Tháo từng có thời kỳ muốn làm năng thần, rồi sau đó vì thời thế ép buộc mới chuyển sang làm gian hùng. Sự thực như thế nào? Tào Tháo đã làm một năng thần ra sao?

Nhà họ Tào đối với nguồn gốc xuất thân của dòng họ mình thì hết sức mù mờ, đó là bởi họ Tào không phải gia đình có bề dày học thức, cũng tương tự như nhà họ Tôn ở Giang Đông mà sau này chúng ta sẽ thấy. Tổ phụ Tào Tiết (hay Tào Manh) ở nhà nuôi lợn (Tào Tiết này không phải hoạn quan Tào Tiết thời Hán Linh đế).

Đến thời con ông ta là Tào Đằng làm hoàng môn tụng quan, được chọn vào cùng Thái tử đọc sách, làm quen với Thái tử (về sau là Hán Hoàn đế) thì mới có cơ hội leo cao. Con nuôi là Tào Tung nhờ thế lực và tiền của cũng mua được vài chức quan. Gia đình Tào Tháo do đó là gia đình trọc phú mới nổi. Tào Tháo “mất dạy” từ nhỏ.

Chính ông ta cũng đã thừa nhận mình “đã không tam tỉ giáo, chẳng nghe lời qua đình”. Tam tỉ giáo là nói chuyện Mạnh mẫu ba lần dời nhà để dạy con đừng học theo thói xấu. Lời qua đình là lời của Khổng Tử thấy con đi ngang qua thì hỏi sao không học Thi, Lễ. 

Tào Man truyện nói Tháo lúc nhỏ “chỉ thích săn chim đua chó, du đãng vô độ”. Người chú mấy lần mách với Tào Tung, Tháo liền nghĩ kế giả vờ trúng gió, cho chú báo lại với cha, rồi làm vẻ mặt như thường tới gặp cha. Tào Tung liền nghi ngờ người chú nói dối, càng không để ý tới Tào Tháo.

Thế thuyết tân ngữ còn kể chuyện Tào Tháo cùng Viên Thiệu đi cướp cô dâu, trên thực tế là cưỡng đoạt dân nữ. Tào Tháo cũng như Tào Đằng, Tào Tung, chỉ là cường hào ác bá. Mấy thành tích bất hảo này được Trần Thọ mô tả khéo léo thành “có tài biến trá mau lẹ, rất cơ trí, nhưng có lòng hào hiệp phóng túng, chẳng màng đến sự nghiệp gì cả”.

Bởi Tào Tháo không chăm lo sự nghiệp mà chỉ thích phá làng phá xóm nên chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi về sau Tào Tháo lại được bái làm Nghị lang vì “có thể thông hiểu cổ học”. Kỳ thực thì Ngụy thư đã từng than vãn bọn Nghị lang đương thời với Tào Tháo chỉ là bọn tạp nhạp.

Ghi chép sớm nhất cho thấy Tào Tháo có đọc sách là sau khi Tháo từ chối chức Thái thú Đông quận. Lúc này Tháo đã hơn ba mươi tuổi, mới về nhà, “mùa xuân mùa hạ đọc sách, mùa thu mùa đông săn bắn”.

Tào Tháo và Viên Thiệu lúc trẻ cùng nhau phóng túng, nhưng uy tín của Tháo trong giới danh sĩ lại không là gì. Nếu như Thiệu vào lúc hai mươi tuổi làm Bộc Dương trưởng “rất có thanh danh”, thì danh tiếng của Tháo chỉ là ô danh. Danh sĩ Nam Dương là Tông Thế Lâm “có chí tùng bách”, nhất quyết không giao du với Tháo.

Kiều Huyền xui Tháo nên giao du với danh sĩ Hứa Thiệu để tăng danh tiếng. Hứa Thiệu là người rất giỏi bình luận con người, ai được ông ta bình một câu sẽ nổi như cồn. Thế là “Tháo thường nói khéo, dâng lễ, mong được chú ý. Thiệu khinh rẻ nên không đáp”. Tào Tháo phải “tìm cách bức Thiệu”, Thiệu mới đưa lời nhận xét “năng thần thời trị, gian hùng thời loạn”. Tháo cười lớn, rồi bỏ đi.

Năng thần, anh hùng hay gian tặc?

Lời nhận xét ấy tất nhiên không xuất hiện trong ghi chép của Trần Thọ. Trần Thọ chỉ ghi nhận lời khen của Thái úy Kiều Huyền và danh sĩ Nam Dương là Hà Ngung. Kiều Huyền cho rằng “thiên hạ sắp loạn, không phải là người có tài hơn đời thì chẳng thể cứu được thiên hạ”, mà Tào Tháo chính là người như thế.

Tuy nhiên, từ thời Đông Tấn về sau, càng ngày công luận càng cho rằng bản chất Tào Tháo là hai mặt. Tôn Thịnh viết Dị đồng tạp ngữ đã chủ trương “năng thần thời trị, gian hùng thời loạn”. Hậu Hán thư của Phạm Diệp viết Hứa Thiệu nói rằng Tháo là “gian tặc buổi thanh bình, anh hùng thời loạn thế”; còn Thế thuyết tân ngữ của Lưu Nghĩa Khánh thì cho biết Kiều Huyền đã nhận xét Tháo “ngài thực là anh hùng thời loạn, gian tặc thời trị”. 

Cách nói của Tôn Thịnh thực ra vẫn là hàm ý khen, như Hồ Tam Tỉnh đã lý giải: “là nói rằng kỳ tài tuyệt thế, thiên hạ trị thì dốc hết khả năng cho đời dùng, thiên hạ loạn thì thỏa thích mưu trí làm kẻ gian”.

Ngược lại, lời Phạm Diệp và Lưu Nghĩa Khánh hàm ý chê bai rất rõ. Bất kể là thời trị hay thời loạn, Tào Tháo đều sẽ khiến cho thiên hạ xáo động. Có điều thời trị mà gây loạn thì là gian tặc, thời loạn mà gây loạn thì là anh hùng. Anh hùng hay gian tặc không do bản chất thay đổi, mà do thời thế. Hồ Ngọc Tỉnh cho rằng “hai câu ấy sợ Tôn Thịnh nhân vì Tấn kế thừa Ngụy, có điều úy kỵ nên sửa đổi đi”, mà lời của Phạm Diệp mới là “ghi được sự thực”.

Dịch Trung Thiên trong cuốn Phẩm Tam quốc cũng từng phân tích chỗ thâm thúy trong đoạn bình luận này của Hứa Thiệu ghi trong Hậu Hán thư. Tuy nhiên, dù nói thế nào thì cũng là hàm ý Tào Tháo là người có thể thích ứng với thời đại. Dù là thời loạn hay thời trị, Tào Tháo cũng sẽ làm nên sự nghiệp. Nhưng nếu Tào Tháo sống ở thời đại không trị mà cũng chưa loạn thì sẽ thế nào?

Trần Thọ đối với con đường làm quan của Tào Tháo từ lúc được cử Hiếu liêm đến khi Đổng Trác làm loạn thì nói khá vắn tắt. Một là, nhiều chỗ Trần Thọ chỉ điểm qua thật nhanh. Hai là, Trần Thọ không xác định niên đại cho các giai đoạn ấy. Ghi chép thời gian của Trần Thọ bắt đầu vào tháng chạp năm Trung Bình thứ sáu, khi Tào Tháo khởi binh ở Kỷ Ngô để đánh Đổng Trác.

Năm đó Tào Tháo ba mươi lăm tuổi. Hành trạng của Tào Tháo trong thời gian này rất gập ghềnh. Năm hai mươi tuổi, Tào Tháo được cử Hiếu liêm, ra làm quan Lang, rồi chuyển làm Lạc Dương Bắc bộ úy, huyện lệnh Đốn Khâu (23 tuổi), Nghị lang, Kỵ đô úy, Tế Nam tướng, Thái thú Đông quận.

Đây là thời kỳ mà Dịch Trung Thiên cho rằng Tào Tháo muốn làm năng thần. Ngài Dịch cho rằng là năng thần hay gian thần phụ thuộc vào hai yếu tố: một – thời đại đó là trị hay loạn và hai – Tào Tháo lựa chọn như thế nào.

Sau này Tào Tháo nhớ lại: “Cô ban đầu được cử làm Hiếu liêm, tuổi trẻ, tự biết mình vốn chẳng phải là kẻ sĩ nổi danh nơi hang động, sợ người trong nước thấy rõ cái ngu ngốc phàm thường của mình, nên chỉ muốn làm một viên Quận thú, nắn sửa chính giáo, kiến lập danh tiếng, khiến kẻ sĩ trên đời biết đến mình”. Tào Tháo đã ba lần “nắn sửa chính giáo, kiến lập danh tiếng”, nhưng thảy đều ăn phải quả đắng.

Lần thứ nhất, Tào Tháo làm Lạc Dương bắc bộ úy. Thực ra ý của Tháo là nhắm tới chức Lạc Dương lệnh, nhưng vì người nắm giữ quyền hạn bổ nhiệm là Lương Cốc không chấp nhận, Tư Mã Phòng lại tiến cử nên Tháo mới là Đô úy. Đây là chức vụ bảo vệ trị an. Tào Tháo tới nơi, đặt gậy năm màu, tuyên bố ai phạm vào lệnh cấm đi đêm thì bất kể là ai sẽ đều đánh chết. Mấy tháng sau, chú của hoạn quan Kiển Thạc phạm lệnh, bị Tháo đánh chết. Tào Tháo cũng vì việc này mà bị bọn Kiển Thạc căm hận, tâu xin chuyển Tháo về địa phương, làm huyện lệnh Đốn Khâu, thuộc Đông quận, Duyện Châu.

Lần thứ hai, Tào Tháo trở về triều làm Nghị lang. Vì bấy giờ có nhiều tai dị nên Hán Linh đế hỏi các quan về việc chính trị. Tào Tháo cũng dâng thư nói “gian tà đầy rẫy trong triều, người tốt bị che lấp”. Nhưng Hán Linh đế chẳng thèm để ý. Tình hình chính trị ngày càng xấu. Tào Tháo thấy chẳng thể làm gì được nên không dâng lời can nữa.

Lần thứ ba, Tào Tháo nhờ đánh thắng Khăn Vàng nên được bổ làm quốc tướng nước Tế Nam. Tào Tháo tới đó liền tấn công bọn trưởng lại câu kết với quý thích, xin bãi chức tám người, lại phá hết các đền thờ ở Tế Nam, cấm quan dân không được tế tự nữa.

Vì có chính tích, Tào Tháo được cử làm Thái thú Đông quận. Ta cứ nghĩ, Tào Tháo đã thỏa nguyện, sẽ tiếp tục phát huy. Nào ngờ Tào Tháo không tới Đông quận nhậm chức mà trở về quê, “muốn lấy bùn lầy tự che thân, dứt tuyệt ý tưởng vãng lai cùng tân khách”. Lý do là gì? 

Thất bại của năng thần

Từ năm hai mươi tuổi bước ra làm quan, đến khoảng năm ba mươi tuổi Tào Tháo trở về ở ẩn. Sau này, Tháo nhớ lại: “khi Cô từ quan, tuổi hãy còn trẻ, … trong lòng tự tính, từ đấy về sau qua hai mươi năm nữa, chờ thiên hạ thái bình, Cô sẽ cùng bọn làm quan đồng năm ở trong vùng so sánh mà thôi”. 

Con đường năng thần lần thứ nhất của Tào Tháo xem như thất bại toàn tập. Nguyên nhân là gì?

Tào Tháo từ chức Tế Nam tướng được chuyển sang làm Thái thú Đông quận, vốn là thỏa nguyện “làm một viên Quận thú, nắn sửa chính giáo, kiến lập danh tiếng”. Nhưng Tháo lại cáo bệnh không tới nhậm chức mà trở về quê, “xây một tịnh xá ở cách huyện Tiêu năm mươi dặm”, gần như là ở ẩn. Nguyên nhân thì chính như Tào Tháo đã nói vì lúc ở Tế Nam “làm trái ý các vị Thường thị”, “bọn cường hào ở đó phẫn nộ”, “sợ mang họa đến gia đình, nên cáo bệnh về quê”.

Ngụy thư, Tào Man truyện và Dị đồng tạp ngữ nói như thể Tào Tháo thường mâu thuẫn với Thập thường thị. Tào Tháo từng vào nhà hoạn quan Trương Nhượng đại náo một phen, “múa kích ở sân trước, rồi vượt bức tường thấp nhảy ra ngoài”. Lúc làm Lạc Dương bắc bộ úy, Tào Tháo lại đánh chết chú của hoạn quan Kiển Thạc.

Khi làm Nghị lang, Tào Tháo vì cớ Trần Phồn, Đậu Vũ bị hoạn quan giết hại, nên dâng sớ nói “bọn Vũ chính trực mà bị hãm hại, gian tà đầy rẫy trong triều, người tốt bị che lấp”. Tuy nhiên, những xung đột ấy không có nghĩa rằng Tào Tháo chủ tâm tiến công Thập thường thị. Dịch Trung Thiên từng nói rằng việc Tào Tháo đánh chết chú của Kiển Thạc là lỗi của định mệnh, “có thể chỉ là ngẫu nhiên”. Vào thời điểm đó nếu là người khác thì Tào Tháo cũng sẽ đánh chết để lập danh tiếng. 

Việc Tào Tháo dâng thư cũng có nhiều điều đáng nói. Đây là điều được chép trong Ngụy thư của Vương Thẩm. Xung quanh sự việc này có hai điểm. Một là, Tào Tháo chỉ nói đại khái rằng “gian tà đầy rẫy trong triều” chứ không chỉa mũi dùi vào Thập thường thị. Hai là, theo Hậu Hán thư, Lưu Đào truyện, Tào Tháo liên danh cùng với Tư đồ Trần Đam.

Nói cách khác Trần Đam là người đi đầu, Tào Tháo chỉ núp sau lưng Đam. Hai người tâu rằng: “Công khanh tiến cử, chỉ chọn kẻ bè đảng của riêng mình, đó gọi là thả ưng cú ra mà nhốt loan phượng”. Như vậy mục tiêu tấn công ở đây là công khanh. Ngụy thư nói thêm rằng Tháo “dâng thư hết sức can gián, nói tam công khi tiến cử thì chỉ chuyên né tránh tâm ý của bọn quý thích”.

Khi làm Tế Nam tướng, Tào Tháo cũng nhắm vào đám trưởng lại “a dua xu phụ lũ quý thích”. Những “lễ tế nhảm nhí” mà Tào Tháo ngăn cấm và cho phá hủy hơn sáu trăm đền thờ ấy thực ra là để thờ Thành Dương Cảnh vương Lưu Chương – tông thân có công với nhà Hán.

Nói cách khác, Tào Tháo xung đột với Thập thường thị chẳng qua là ngẫu nhiên, còn mũi dùi mà Tào Tháo chỉa vào chính là quý thích. Hai chữ “quý thích” này là chỉ thẳng vào những người quyền quý thân cận với Hán đế, bao gồm ngoại thích và tông thân. 

Tào Tháo rời khỏi quan trường là vì “làm trái ý các vị Thường thị”, rồi trở lại quan trường cũng nhờ “các vị Thường thị”. Khi Biên Chương, Hàn Toại làm phản, Tháo được triệu về làm Điển quân Hiệu úy. Đây là một trong tám chức hiệu úy ở Tây Viên. Người đứng đầu ra lệnh cho họ chính là Thượng quân Hiệu úy Kiển Thạc – một trong Thập thường thị.

Dù sử thần Ngụy-Tấn có cố mô tả Tào Tháo tốt đẹp đến thế nào đi nữa, Tào Tháo ít nhiều vẫn có mối liên hệ với Thập thường thị. Tào Đằng, Tào Tung đều từng là hoạn quan có máu mặt. Sau này khi Viên Thiệu muốn tiêu diệt hoạn quan, Tào Tháo đã nói rõ quan điểm.

Tháo cho rằng hoạn quan là một “tồn tại khách quan” (lũ yêm hoạn xưa nay đều có), nhà Hán rối loạn lỗi chủ yếu là do hoàng đế (các bậc đế vương chẳng nên trao cho bọn ấy quyền lực và ân sủng), chỉ nên giết vài người cầm đầu (nên giết đứa thủ ác đầu sỏ) và nên dùng phương pháp chính trị (một viên ngục lại là đủ rồi). Đây là lời phát biểu được chép trong Ngụy thư.

Hà Trác cho rằng lời này “là sau khi việc đã xảy ra mới dùng lời hư hão để tô điểm cho đẹp; tổ của y là ai, mà nói chuyện trừ yêm thụ?” 

Tất nhiên Tào Tháo có thể không phải bàn chuyện trừ bỏ yêm thụ, mà là đang ngăn chận việc trừ bỏ ấy. Theo Anh hùng ký của Vương Xán, cuối thời Linh đế, Tào Tháo và Lưu Bị cùng nhau bỏ kinh đô Lạc Dương mà trở về nước Bái chiêu mộ quần chúng. Gặp khi Linh đế băng hà, Đổng Trác làm loạn, mới cất quân đánh Đổng Trác.

Vương Xán là người cùng thời với Tháo và từng phục vụ cho Tháo. Nếu lời ông ta là đúng, Tào Tháo không phải đợi đến khi Đổng Trác vào kinh mới bỏ chạy, mà đã rời kinh đô từ trước khi Linh đế băng hà. Vào thời điểm ấy, mâu thuẫn giữa hai dòng quý thích của Đổng Thái hậu và Hà Thái hậu đang căng thẳng.

Hoạn quan Kiển Thạc lại mâu thuẫn với Hà Tiến (sau khi Linh đế băng hà và thái tử Biện lên nối ngôi, Kiển Thạc sẽ bị bắt giam và chết trong ngục). Tào Tháo rất có thể đã trốn về đông để tránh mối nguy do quý thích muốn tiêu diệt hoạn quan. Sự thật đã chứng minh, khi Viên Thiệu đồ sát yêm hoạn, gia đình Tào Tháo hoàn toàn được vô sự.

Trong mười năm đầu làm chính trị, Tào Tháo muốn trở thành năng thần, thành một viên quan nắn sửa chính giáo. Nhưng rốt cuộc, Tháo chỉ gặp toàn thất bại. Dịch Trung Thiên cho rằng đó là vì triều Hán đã “thối rữa đến tận nóc”, nên Tháo chẳng thể làm “năng thần thời trị”. Thực ra chính Tào Tháo đã là biểu hiện của sự thối rữa đó.

Thời bấy giờ có câu ca dao: “Cử Tú tài, không biết chữ. Cử Hiếu liêm, cha ở riêng”. Tào Tháo lúc trẻ thì phóng đãng vô độ, cưỡng đoạt dân nữ, lừa cha hại chú, vậy mà cũng được cử Hiếu liêm! Loại Hiếu liêm “cha ở riêng” như Tào Tháo mà đòi nắn sửa chính giáo, về cơ bản là chẳng thể được. 

Cái gọi là nắn sửa chính giáo của Tào Tháo chính là siết chặt hình phạt. Lúc làm Lạc Dương bắc bộ úy, Tháo siết chặt lệnh cấm đi đêm. Khi làm Tế Nam tướng, Tháo tấn công tín ngưỡng của dân. Lúc làm Thừa tướng, Tào Tháo bàn bạc việc khôi phục nhục hình thời cổ. Dịch Trung Thiên mặc dù đang đà tán tụng Tào Tháo, cũng rùng mình cảm thấy rằng “có thành phần “ác” ở đây”.

Thật vậy, nền chính trị mà Tào Tháo thi hành lúc đó là nền chính trị tàn bạo. Tào Tháo muốn làm “tuần lại” (quan tốt), nhưng lại thực thi biện pháp của “khốc lại”. Đi đêm không phải tội chết, nhưng Tháo lại dùng gậy đánh chết người. Việc thờ cúng dẫu có xa xỉ, nhưng tiến tới phá hủy đền thờ thì là đi ngược với lòng dân. Thế nên Ứng Thiệu cho biết “sau Tháo đi, mọi việc lại như cũ”. 

Dịch Trung Thiên từng chỉ ra rằng Tào Tháo không phải là người sáng tạo ra được cái mới. Tháo chỉ dựa vào ngôi nhà mục nát của triều Hán mà sửa sang lại đôi chút. Sở dĩ như thế là vì Tào Tháo không đại diện cho xu thế lịch sử. Xu thế lịch sử lúc bấy giờ là sĩ tộc lên nắm chính quyền.

Tào Tháo là hàn môn, lại là con cháu hoạn quan. Hành động của ông ta rất giống Lưu Bị, đều là muốn khôi phục lại sự huy hoàng của chế độ cũ. Nhưng nhà Hán dù cho có muốn trùng hưng lần nữa thì cũng phải dựa trên một nền tảng chính trị hoàn toàn mới. Nếu muốn như vậy thì phải kéo sập căn nhà mục nát xuống, nhưng Tào Tháo không có gan đó hay nói đúng hơn là không có tầm nhìn đó.

Người tích cực vận động cho bánh xe lịch sử tiến lên vào thời điểm đó chính là Viên Thiệu. Viên Thiệu chính là sĩ tộc, là người đại diện cho xu thế lịch sử. Lúc hai mươi tuổi, Viên Thiệu làm Bộc Dương trưởng (đứng đầu huyện lớn là lệnh, huyện nhỏ là trưởng), nhưng đã sớm mượn cớ cư tang để bỏ chức quan, cùng Trương Mạc, Hà Ngung, Hứa Du, Ngũ Quỳnh kết bạn làm du hiệp, mưu đồ việc lớn.

Khi Viên Thiệu trở lại triều đình lần thứ hai, chỉ vung tay một cái là quét sạch cơ đồ của Thập thường thị. Điều này Tào Tháo hoàn toàn không thể làm được. So với Viên Thiệu thì Tào Tháo chỉ như đứa trẻ con trên đường chính trị, dù Tháo đã lặn ngụp ở đó đến mười lăm năm. Tào Tháo còn thiếu sót những gì?.

Tuy nhiên, trong hơn mười lăm năm đầu, những điều Tào Tháo thể hiện ở trên chính trường là hết sức nhỏ bé. Tào Tháo hầu như chẳng làm được gì. Đó không chỉ là vì Tháo bị trói buộc bởi nguồn gốc xuất thân và vị thế chính trị. Tư chất chính trị của Tào Tháo cũng là thứ rất có vấn đề… 

Nếu như Tào Tháo thực sự là một gian hùng, thì Tào Tháo chính là một gian hùng quá đỗi ngây thơ.

Muốn bàn tới chính trị, trước hết phải biết cái gì là chính trị? Chính trị chính là tập hợp lực lượng và xử lý các mối quan hệ. Đó là cái mà Trần Bình thời Tây Hán gọi là “điều hòa âm dương”. Người làm chính trị thành công thì phải có nhận thức sâu sắc về lực lượng.

Chính vì nhận thức được điều đó mà Viên Thiệu mới lễ hiền hạ sĩ, kết giao hào kiệt. Cũng vì nhận thức được điều đó mà khi trở lại quan trường lần thứ hai, Viên Thiệu chọn làm việc dưới trướng Hà Tiến. Bởi vì muốn đánh bại hoạn quan, cách tốt nhất là dựa vào quý thích vốn đang đối đầu với hoạn quan.

Tào Tháo thì không biết điều đó. Trong suốt mười lăm năm, Tào Tháo thường chỉ hành sự đơn độc. Vì đơn độc nên yếu thế, Tháo chẳng thể làm gì ra hồn. Chỉ khi Tào Tháo bắt đầu xây dựng một tập đoàn nhỏ, sự nghiệp của Tào Tháo mới khởi sắc. Thêm vào đó, mục tiêu chính trị của Tào Tháo cũng không hề rõ ràng, chỉ là muốn nắn sửa chung chung. Về điểm này, Tào Tháo hoàn toàn thua kém Viên Thiệu.

Khi liên quân Quan Đông vừa thành lập, Viên Thiệu đã hỏi Tào Tháo về chiến lược bình định thiên hạ. Tào Tháo chỉ có thể nói rằng: “Ta dùng trí lực trong thiên hạ, lấy đạo để chế ngự, thì không gì là không thể”.

Đứng dưới góc độ của người đời sau mà xét, câu nói của Tào Tháo ẩn chứa đạo lý chính trị hết sức sâu xa. Tào Tháo xác định vốn liếng của mình là nhân tố con người, trong khi Viên Thiệu chỉ chăm chăm nghĩ tới đất đai. Rõ ràng Tào Tháo cao hơn một bậc.

Tuy nhiên nếu đứng trên góc độ tình thế lúc ấy, Tào Tháo thể hiện rõ rằng mình không hề có một chiến lược lâu dài nào cả. Cái mà Tào Tháo có chính là chiến lược để giải quyết vấn đề trước mắt: chiến lược bao vây Đổng Trác.

Nhưng diệt Đổng Trác rồi thì tiếp theo sẽ phải làm gì, hoặc nếu liên minh đánh Đổng thất bại thì sẽ phải làm gì, Tào Tháo chưa hề nghĩ đến. Đây là điểm Tào Tháo khác xa với Viên Thiệu. Tào Tháo chỉ nhìn thấy những sự vụ trước mắt, nghĩ cách giải quyết những vấn đề trước mắt. 

Mục tiêu của Tào Tháo rất thấp, ban đầu làm quan văn thì muốn nắn sửa chính giáo, làm một viên quan tốt; về sau làm quan võ thì muốn lập công biên cương, làm một lương tướng. Viên Thiệu thì khác hẳn. Thiệu sớm đã chán ngán với thực trạng nhà Hán, kết giao hào kiệt sửa soạn để xây dựng một triều đại mới.

Nếu đem mục tiêu của hai người ra mà so sánh, Tào Tháo chẳng qua chỉ là “người tốt”; Viên Thiệu thì mới thực sự là “anh hùng”. Viên Thiệu đã nhiều lần mời gọi Tào Tháo đi con đường đó, nhưng Tháo chỉ cười mỉa, “coi Thiệu là không ngay thẳng”. Kỳ thực đúng như Trần Thắng nói: Chim én chim sẻ, làm sao biết được ý chí của chim hộc, chim hồng!

Từ lúc khởi binh đánh Đổng Trác, Tào Tháo phải mất ba năm (189-192) mới tìm ra Long Trung sách cho bản thân. Ấy là khi Tào Tháo may mắn có được cơ hội Duyện Châu mục Lưu Đại vừa mới mất, một bạn chiến đấu của Tháo là Bào Tín và Vạn Tiềm tới Đông quận rước Tháo về làm Duyện Châu mục. Bấy giờ, Tào Tháo mới tạm có đất đứng chân (Đông quận vốn là địa bàn mà Viên Thiệu sai Tào Tháo cai trị).

Mao Giới theo phò Tào Tháo, mới bắt đầu đề xuất chiến lược “binh nghĩa thì thắng, giữ địa vị, dùng tiền của, nên phụng thiên tử để ra lệnh cho kẻ không thần phục, sửa sang việc cấy hái, tích trữ quân binh của cải”. Dịch Trung Thiên chỉ ra rằng đây chính là Long Trung sách, là chiến lược bình định thiên hạ của Tào Tháo. 

Nhưng chiến lược bình định ấy vẫn còn thiếu sót rất lớn, đó là chỉ nói lên những vấn đề chính trị, kinh tế chung chung, mà thiếu đi một chiến lược phát triển đất đai cụ thể. Trên thực tế Tào Tháo vừa không phụng được thiên tử (vì thiên tử ở tận Trường An), vừa không thể phát triển kinh tế. Ngược lại, Tào Tháo bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh. Tháo đánh đuổi Khăn Vàng tới tận Thanh Châu, rồi tham gia vào cuộc chiến tranh Viên-Viên ở bên phía Viên Thiệu, sau đó lại đi đánh Đào Khiêm. 

Chính vì đánh Đào Khiêm, Tào Tháo đã phá tan liên quân Quan Đông cứu Hán đế lần thứ hai mà Đào Khiêm đang trù tính, cũng mất luôn sự ủng hộ của sĩ tộc Duyện Châu. Kết quả là Trần Cung, Trương Mạc chọn một anh hùng khác là Lữ Bố làm Duyện Châu mục.

Tào Tháo lại mất thêm hai năm trời giành giật Duyện Châu với Lữ Bố. Chẳng những Tháo không thể “sửa sang việc cấy hái, tích trữ quân binh của cải”, mà ngược lại Duyện Châu rơi vào cảnh thiếu đói, Tào Tháo hết sạch lương thực, suýt nữa là dắt díu cả nhà tới Nghiệp Thành làm bề tôi cho Viên Thiệu!

Chính vào lúc đó, Tào Tháo gặp may lần thứ hai. Hán Hiến đế bằng khả năng chính trị của mình, đã thoát khỏi bàn tay Lý Thôi, Quách Dĩ, quay về được Lạc Dương, rất gần Duyện Châu. Tào Tháo liền đem quân tới đón Hán Hiến đế, đưa về Hứa Xương.

Long Trung sách của Tào Tháo đã thực hiện được điểm quan trọng nhất. Thế nhưng, Tào Tháo vẫn không sao thoát khỏi sự bế tắc về chiến lược tranh thiên hạ. Tào Tháo luôn qua lại giữa hai mục tiêu: đi về đông đánh Lữ Bố, Viên Thuật hay đi về nam đánh Trương Tú, Lưu Biểu. Tào Tháo thấy chỗ nào có lợi thì đánh chỗ đó. Kết quả, Tào Tháo giống như Khổng Tử bị vây ở Trần, Sái – hổ chẳng phải, tê chẳng phải, rừng hoang một bầy quanh quất mãi.

Cuộc đời binh nghiệp của Tào Tháo thể hiện rất rõ sự yếu kém của ông ta về mặt chiến lược. Nếu để Tào Tháo tự chủ trương, ông ta liền ra những quyết sách sai lầm. Trong khi Lữ Bố đã chiếm gần hết Duyện Châu, Tào Tháo lại định đem quân đi tranh Từ Châu với Lưu Bị.

Trong khi Tào Tháo lo ngại Viên Thiệu sẽ đưa quân vào Trường An và liên lạc với Ích Châu, thì ngược lại Viên Thiệu đang sửa soạn đánh thẳng vào sào huyệt Tào Tháo. Khi Viên Thiệu vừa thua trận lớn ở Quan Độ, Tháo lại định để yên cho Thiệu mà quay sang đánh Lưu Biểu. Tào Tháo thấy chỗ nào có vẻ dễ đánh thì liền tới đánh chỗ đó, hoàn toàn chỉ là chạy theo mối lợi. 

Ngược lại, thấy chỗ nào khó nhằn, Tháo liền muốn bỏ. Tào Tháo vây Lữ Bố ở Hạ Bi hơi lâu, liền nản muốn rút. Tào Tháo đánh với Viên Thiệu ở Quan Độ, thấy khó thắng, liền viết thư cho Tuân Úc định quay về Hứa Đô.

Tào Tháo vừa thua Chu Du một trận liền cuốn gói ra về, để mặc Tào Nhân ở lại đối phó. Tào Tháo giằng co với Lưu Bị ở Hán Trung, liền nảy ra tư tưởng “xương sườn gà” (kê lặc –bỏ đi thì tiếc, mà gặm thì không có thịt). Nói cách khác, Tào Tháo là loại cả thèm chóng chán!

Nếu Tào Tháo chỉ một mình mà mưu tính, sự nghiệp Tào Tháo hẳn sẽ nát bét. May thay, Tháo có hai mưu sĩ quan trọng luôn chỉnh sửa sai lầm cho Tháo. Đó là Tuân Úc và Quách Gia. Tuân Úc hai lần chỉ ra chiến lược đúng đắn. Lần thứ nhất Úc khuyên nên tập trung đoạt lại Duyện Châu. Lần thứ hai ông khuyên Tào Tháo nên thừa cơ thanh toán Viên Thiệu. Nhưng Quách Gia mới là người phá thế bế tắc về chiến lược cho Tào Tháo.

Quách Gia chỉ ra rằng Tháo nên tập trung đi về phía đông phá Lữ Bố. Từ khi Quách Gia xuất hiện, sự nghiệp của Tào Tháo mới hanh thông và đất đai mới liên tiếp được mở rộng một cách vững chắc. Đây là điều hết sức kỳ lạ, chẳng phải Tào Tháo được khen là kỳ tài trời sinh về mặt quân sự đó sao? Trên thực tế Tào Tháo là một nhà quân sự như thế nào?

tam quoc

Sự thật về tài lý luận quân sự của Tào Tháo

Tào Tháo là vị lãnh đạo Tam quốc nhận được nhiều lời ca tụng nhất. Đó là bởi vì Tào Tháo chiếm nhiều đất nhất, sự nghiệp có vẻ như thành công nhất, đặc biệt là ở trên khía cạnh quân sự. 

Về mặt này, Ngụy thư của Vương Thẩm cuối thời nhà Ngụy đã ca ngợi Tháo đến tận mây xanh: “Thái Tổ tự mình thống quản thiên hạ, dẹp sạch bọn xấu, hành quân dụng binh, đại khái chiếu theo binh pháp Tôn, Ngô, nhưng ứng việc nảy kỳ mưu, lừa địch quyết thắng, biến hóa như thần. Tự sáng tác binh thư hơn mấy chục vạn chữ, chư tướng chinh phạt, đều theo tân thư ấy mà hành động.

Khi lâm việc lại tự mình đứng ra điều phối, ai theo lệnh thì thắng lợi, ai trái mệnh thì thất bại. Cùng địch đối trận, phong thái nhàn nhã an nhiên, vẻ như không muốn đánh, nhưng đến lúc quyết cơ thừa thắng, khí thế tràn trề, cho nên mỗi khi giao chiến thì tất thắng, quân lính không mong gì hơn”. Vậy Tào Tháo là một nhà quân sự như thế nào?

Trần Lâm (?-217) đối với thời kỳ đầu cầm quân của Tào Tháo đã nhận xét rằng Tháo “ngu chậm mưu cạn, tiến lui bừa bãi, hao quân tổn tướng, mấy lần tan quân”. 

Thực vậy, thời kỳ này Tào Tháo thua trận chủ yếu không phải vì địch đông ta ít, mà chủ yếu là vì “sổ táng sư đồ” (mấy lần tan quân). Nguyên nhân chủ yếu thì như lời Quách Gia đã ca tụng trong thập thắng: “Công nắn sửa chính trị lấy sự nghiêm khắc ràng buộc” (trị thắng).

Kết quả là sĩ tốt thường phản bội Tào Tháo mà bỏ đi. Tháo biệt truyện chép: sau khi Tháo được phong Điển quân Hiệu úy (trước khi Thiệu diệt hoạn quan), bèn trở về huyện Tiếu. Sĩ tốt nước Bái liền làm phản, tập kích Tào Tháo. Tháo thua chạy giữ mạng, trốn vào trong nhà của đình trưởng Bình Hà, chỉ dám xưng là xử sĩ Tào Tế Nam. Tam quốc chí và Ngụy thư cùng kể việc Tào Tháo khinh thường truy kích Đổng Trác, bị tướng của Trác là Từ Vinh đánh bại.

Tháo phải tới Dương Châu, xin được hơn bốn ngàn quân. Nhưng quay về tới huyện Long Kháng thì số sĩ tốt này lại làm phản, tự mình đốt trướng của Tào Tháo. Tháo phải tự tay đánh giết mới thoát được. Trong số hơn bốn ngàn quân đó chỉ có năm trăm người không làm phản!

Tập họp những câu chuyện ứng xử giữa Tào Tháo và binh sĩ, ta thấy nổi lên hai đặc trưng. Một là, Tháo đối với binh sĩ thì rất nghiêm hình phạt, như chuyện chỉ cần đạp lên lúa thì chém. Phó Huyền từng nói: “Ngụy Vũ thích pháp, thuật nên thiên hạ quý hình danh”. Pháp, thuật, hình, danh là các thuật ngữ của trường phái Pháp gia – chú trọng dùng pháp lệnh, hình phạt để đối xử với người khác.

Hai là, Tháo đối với binh sĩ thì rất hay lừa bịp, như chuyện lấy đấu nhỏ phát thóc cho quân, hay chuyện nói dối rằng phía trước có rừng mơ. Dịch Trung Thiên nói rất đúng: bất kể là binh sự hay chính sự, thì đều là nhân sự. Cái gốc của nó chính là quan hệ giao tiếp giữa người và người. Kiểm điểm lại toàn bộ cuộc đời quân sự của Tào Tháo thì thấy, những lần Tào Tháo thất bại nặng nhất thường là do thuộc hạ phản bội: mất Duyện Châu cũng vậy, thua Uyển Thành cũng vậy. Tào Tháo đối với thuộc hạ và binh sĩ không gây dựng được sự tin tưởng, mà đổi lại là dùng quyền mưu để khống chế. 

Sử sách ghi nhận Tào Tháo có rất nhiều trứ tác về mặt quân sự và văn học. Hình tượng Tào Tháo được ghi lại ở đó là một người “năng minh cổ học”, “tay không rời sách”. Quả thực có rất nhiều sách đội tên Tào Tháo hoặc do Tào Tháo chú giải, như Ngụy Vũ binh pháp tiếp yếu, Tôn Tử binh pháp chú, Tục Tôn Tử binh pháp, Binh thư lược yếu, Ngụy Vũ đế binh pháp, Ngụy Vũ đế binh thư, Tân thư, Thái Công âm mưu, Tư Mã pháp chú. Nếu tính trên số lượng đầu sách, Tào Tháo quả thực là một nhà lý luận quân sự. Tuy nhiên vấn đề không nằm ở số lượng, mà ở chất lượng. 

Nhà phê bình văn học thời Nam Tề là Lưu Hiệp từng nhận xét rằng: “Ngụy Vũ bảo văn Trương Hành là vụng, nhưng chính học vấn ông ta lại nông cạn, kiến thức không nhiều, chuyên nhặt những lời văn nhỏ mọn của Thôi Nhân, Đỗ Độc. Những bài làm ra không phải bài nào cũng khó khăn, nhưng hễ gặp khó khăn là không có cách đi ra. Đó là cái bệnh của người học ít”. Thực vậy, Tào Tháo “năng minh cổ học” là điều rất đáng ngờ, vì lúc nhỏ Tào Tháo không hề chăm học, cũng chẳng được cha mẹ dạy dỗ. 

Khảo sát phần chú thích của Tào Tháo đối với Tôn Tử binh pháp cũng có thể nhận ra điều đó. Tào Tháo hoàn toàn không có sự phát triển nào về mặt lý luận, mà chủ yếu là chú giải ý nghĩa của những chữ khó. Hơn nữa, lời chú rất ngắn. Đỗ Mục từng nhận xét: “Những chú giải của Tào Công, mười phần không chú giải được một”. Tuy nhiên, Tháo lại “tiếc những điều sở đắc, tự làm sách Tân thư”. Đó là cuốn sách mà Vương Thẩm đã ca tụng.

Tân thư của Tào Tháo cũng là chủ đề mà Đường Thái Tông và Lý Tĩnh từng đưa ra bàn luận. Trong đó, Tào Tháo chủ trương: “Khi lâm trận đánh địch, trước tiên lập biểu, rồi đem binh đến, theo biểu mà bày trận. Nếu một chỗ bị tấn công, các chỗ khác không đến cứu thì chém”. Biểu ở đây có thể hiểu là biểu đồ, kế hoạch hoặc là dấu mốc để cứ theo đó mà bày trận. Đường Thái Tông vô cùng sửng sốt vì tư tưởng đó, nên mới hỏi rằng “đó là thuật gì?”.

Lý Tĩnh cho rằng: “Lâm trận mới lập biểu là sai rồi! Đấy chỉ là phương pháp khi dạy đánh nhau mà thôi … Tào Công là người tự kiêu mà háo thắng. Lúc đương thời, chư tướng nhận binh thư mà không ai dám chỉ trích chỗ dở. Vả lại khi lâm trận mới lập biểu, không phải là quá muộn hay sao?”.

Lý Tĩnh chỉ ra rằng người giỏi dùng binh thì phải dạy quân cho tinh nhuệ, lúc vào trận thì xua quân như xua đàn dê, có đâu đợi đến lúc giáp địch rồi mới vẽ bản đồ, lập dấu mốc! Điều này cho thấy tư tưởng quân sự của Tào Tháo có những chỗ hết sức giáo điều, sách vở và phi thực tế.

Bất kể là về mặt lý luận hay thực hành, Tào Tháo đều có vấn đề về mặt quân sự. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là Tào Tháo bất tài. Nếu Tháo bất tài, ông ta đã không chiến thắng nhiều đến như vậy.

Nhưng cũng chẳng thể nói Tháo là thiên tài quân sự vì nếu Tháo là thiên tài, ông ta đã không thất bại nhiều đến như vậy. Phong độ của Tào Tháo hết sức trồi sụt, có lúc ông ta chiến thắng như thần, có lúc lại vất vả vì mấy tên giặc nhỏ như Xương Hi, Trương Tú, Trương Lỗ. 

Những chiến thắng giòn giã của Tào Tháo liên quan mật thiết đến hai khía cạnh: thứ nhất là địa bàn, thứ hai là thời đoạn. Một là, Tào Tháo thường chiến thắng khi tung hoành Trung Nguyên. Hai là, Tào Tháo chiến thắng liên tiếp trong thời kỳ Quách Gia làm mưu sĩ. Một khi không có Quách Gia, một khi Tháo rời Trung Nguyên, sự nghiệp quân sự của Tào Tháo liền gặp trắc trở, nếu không tan quân chết tướng thì cũng là ra về tay không. Điều này liên quan đến sở trường sở đoản của Tào Tháo.

tải xuống

Tào Tháo rất có năng lực về mặt kỵ binh, bước vào con đường quân sự là được phong ngay chức Kỵ đô úy. Sau này Tào Tháo chiến thắng Vu Độc, chém chết Văn Xú, đánh úp Ô Sào, bình định Ô Hoàn, truy sát Lưu Bị, phá tan Mã Siêu đều dựa vào năng lực của kỵ binh.

Tào Tháo đã xây dựng cho riêng mình một lực lượng kỵ binh cận vệ tinh nhuệ, gọi là Hổ Báo kỵ. Đây là lực lượng đặc biệt mà chỉ có những người thân cận họ Tào như Tào Thuần, Tào Chân mới được chỉ huy. Sau khi Tào Thuần qua đời, Tháo đã tự mình chỉ đạo Hổ Báo kỵ. Trong Tân thư, Tào Tháo đã đề ra chiến thuật chia quân kỵ làm ba bộ phận: chiến kỵ, hãm kỵ, du kỵ. Chiến thuật này đã được danh tướng Lý Tĩnh thời Đường mô phỏng lại.

Tuy nhiên, khi Tào Tháo rời bỏ địa hình bằng phẳng, chuyển sang tác chiến trên các địa hình mà kỵ binh không thể phát huy năng lực, Tào Tháo liền thất bại. Ở trên mặt nước, Tào Tháo thua Chu Du, dù có quân đông gấp mấy lần (trận Xích Bích thua không phải vì hỏa công, trước đó đã có một trận tao ngộ chiến tay đôi, nhưng Tháo vẫn thua).

Đi vào rừng núi, Tào Tháo liền đánh không lại Lưu Bị. Đây là một trong những lý do khiến cho Tào Tháo không thể thống nhất thiên hạ mà chỉ thống nhất được Trung Nguyên. Nhưng, đó cũng chẳng phải là lý do duy nhất…

 Thực hư tài thu phục người giỏi của Tào Tháo

Nói về vốn liếng chính trị, Tháo từng tuyên bố sẽ “dùng trí lực của thiên hạ, lấy đạo mà chế ngự”. Thực vậy, Tào Tháo đã bổ khuyết những kém cỏi của mình trong chính trị và quân sự bằng cách sử dụng kiến nghị của những người khác. 

Người ta thống kê được số mưu sĩ hạt nhân và mưu sĩ cấp thấp trong suốt đời Tào Tháo có đến 102 người. Bởi vì Tào Tháo có nhiều thắng lợi vẻ vang được ghi chép lại, thống nhất được vùng lãnh thổ rộng lớn nhất, nên Tào Tháo cũng được mô tả là người dùng người giỏi nhất. Rất nhiều huyền thoại về tài năng dùng người của Tào Tháo cũng vì thế mà ra đời. 

Tuy nhiên, nhìn nhận như vậy là chỉ thấy được một khía cạnh thành công. Trên thực tế, sự nghiệp của Tào Tháo đến một giai đoạn nhất định thì đã ngưng phát triển. Lý do là gì? Những huyền thoại về tài dùng người của Tào Tháo thực ra là thế nào? 

Dịch Trung Thiên chỉ ra rằng các mưu sĩ quan trọng thời kỳ đầu của họ Tào đều là tự mình đến với Tào Tháo, như Tuân Úc, Quách Gia, Trình Dục, Giả Hủ. Đó là bởi vì Tào Tháo có sức hấp dẫn. Quách Gia đã tuyên bố: “Bậc trí giả khéo ở việc chọn chủ, cho nên trăm lần mưu việc là trăm lần toàn vẹn mà công danh có thể lập được”.

Quách Gia chê Viên Thiệu “chưa biết mấu chốt của việc dùng người” rồi chạy sang chỗ Tháo, khen Tháo “thật là chủ của ta”. Điều đó hàm ý Tào Tháo dùng người giỏi hơn Viên Thiệu và có sức hấp dẫn nhân tài chân chính. Tuy nhiên, cái sức hấp dẫn ấy là điều hết sức đáng ngờ.

Trong số những người chạy sang với Tào Tháo, chỉ có Giả Hủ đúng là đơn thuần chọn chủ (mà chưa chắc Hủ đã chọn đúng). Tuân Úc, Quách Gia rời doanh Viên Thiệu đều có lý do khác. Tuân Úc rời đi là vì lý do chính trị (Úc chủ trương phò Hán). Quách Gia rời đi lại là vì lý do không gian.

Quách Gia là loại mưu sĩ muốn chủ nhất nhất phải nghe mình (trăm lần mưu việc là trăm lần toàn vẹn), muốn như vậy thì phải gặp loại chủ chưa hề có chiến lược sách lược gì cả. Viên Thiệu thì đã sớm có sẵn Long Trung đối. Quách Gia lại là nhân tài lớp sau, khó lòng chen chân trong đám hiền tài mà Viên Thiệu tập hợp. Nhưng đúng như Dịch Trung Thiên nói: Chuyện Trình Dục về với Tào Tháo mới thú vị.

Trình Dục được hai đời quan Duyện Châu mời gọi. Trình Dục từ chối lời của Lưu Đại, nhưng Tào Tháo vời thì Dục đi ngay. Người làng thấy lạ, hỏi Dục, Dục chỉ cười không đáp. Dịch Trung Thiên đã dẫn nó ra như một minh chứng về sức hấp dẫn của Tào Tháo. Tương tự câu chuyện Trình Dục còn có chuyện của Điền Trù.

Điền Trù ở ẩn trong núi, Viên Thiệu năm lần đưa lễ tới mời, Trù đều không ra. Nhưng sứ giả của Tào Tháo tới thì Trù liền ra ngay. Môn hạ của Trù hỏi, Trù cười, chỉ đáp rằng: “Đó không phải là thứ mà ngài hiểu được”. Vậy thứ chúng ta không hiểu được đó là gì?

Đường Canh thời Bắc Tống đã giải thích hàm nghĩa của câu chuyện Điền Trù. Ông nói rằng nguyên nhân Điền Trù không nói là vì “khó mở lời”. Nếu thực sự Điền Trù, Trình Dục bị Tào Tháo hấp dẫn thì có gì mà phải khó mở lời? Đường Canh dẫn một câu chuyện: “Xưa Hán đế hỏi Ngô Lương rằng: “Tiên đế triệu khanh không tới, mà lại quay lưng theo Phiêu Kỵ làm quan là sao?”.

Lương nói: “Tiên đế lấy lễ đối đãi, nên thần dùng lễ để tiến lui. Phiêu Kỵ dùng pháp luật để kiềm chế, nên thần vì pháp luật mà chịu khuất ông ta”. Đường Canh cho rằng “dụng ý của Điền Trù cũng thế thôi”.

Dưới thời Viên Thiệu cầm quyền, pháp lệnh khoan hòa. Thiệu dùng lễ đối đãi, nên Điền Trù từ chối để làm trọn chí mình. Nhưng dưới thời Tào Tháo thì “thích pháp, thuật”, trọng hình phạt nên không đến sẽ bị xui xẻo. Nói như Đường Canh: “Họ Tào đòi gấp, nên Trù không dám không đến. Tới không phải là vì mộ nghĩa. Bởi thế trọn đời không nhận tước phong. Trù tuy không nói; nhưng lời nói đã ẩn trong đó vậy”. 

Thực vậy, Điền Trù chỉ ra mặt bôi bác với Tào Tháo một thời gian, rồi thà chết chứ không nhận tước phong. Trình Dục cũng vậy. Ông ta giúp đỡ Tào Tháo một thời gian, rồi cũng từ quan về nhà đóng chặt cửa, đến thời Ngụy Văn đế mới tái xuất. Điều đó cho thấy, cái gọi là sức hấp dẫn của Tào Tháo là hết sức có vấn đề. Tào Tháo không phải là kiểu người có thể tự mình hấp dẫn danh sĩ trí thức. Thậm chí lúc Tháo chưa trở thành quân phiệt có vốn liếng, có danh sĩ còn nhất quyết không kết giao với Tào Tháo.

Người giúp đưa Tào Tháo đến với giới danh sĩ chính là Tuân Úc. Tuân Úc đã tiến cử rất nhiều người cho Tào Tháo dùng. Mấy mưu sĩ đầu tiên của Tào Tháo như Hí Chí Tài, Quách Gia, Tuân Du đều là Úc tiến cử. Những người này đều hết lòng với Tào Tháo đến chết, là bộ khung trí tuệ quan trọng của Tào Tháo. Những người do Tháo đích thân tuyển chọn hoặc hấp dẫn thì không được như vậy. Phần sau sẽ nói đến.

Huyền thoại nhìn người

Huyền thoại thứ hai về Tào Tháo là câu chuyện nhìn người chuẩn xác. Vương Thẩm tán tụng Tháo “khéo biết người, khó ai dối lừa che mắt được”. Sự thật là Tào Tháo đã nhìn sai rất nhiều người, tiêu biểu là vụ Trương Mạc. 

Trương Mạc là bạn đồng chí của Viên Thiệu, nhưng Tam quốc chí lại mô tả như thể Thiệu và Mạc có mâu thuẫn. Vì lúc ở liên quân Quan Đông “Thiệu có khí sắc kiêu căng”, Trương Mạc “lấy lời chính đáng trách Thiệu”, nên thành ra hiềm khích. Thiệu từng sai Tào Tháo giết Trương Mạc.

Tuy nhiên, đó là những điều mà hai người này diễn cho thiên hạ xem. Bằng chứng là sau khi Thiệu lấy Kí Châu đã từng sai sứ sang chỗ Trương Mạc, hai bên nói chuyện thân thiết đến nỗi Kí Châu mục cũ là Hàn Phức tưởng là đang mưu hại ông ta, sợ quá, phải chạy vào nhà xí tự sát! Tào Tháo nhận được lệnh của Viên Thiệu, không giết Mạc mà còn trách ngược lại Thiệu.

Tháo tuyên bố Mạc “là thân cận bằng hữu của ta”. Thế là, Trương Mạc và Tào Tháo đã thân càng thêm thân. Lúc Tháo đi đánh Đào Khiêm đã dặn dò rằng: “Nếu ta không về (ý nói chết), hãy đến nương nhờ Mạnh Trác”. Trương Mạc được Tào Tháo tin tưởng như thế. Nhưng gian hùng Tào Tháo hết sức ngây thơ, không biết là mình bị lừa. Tháo vừa quay lưng đi, Trương Mạc liền dắt Lữ Bố về cướp Duyện Châu của Tào Tháo!

Tào Tháo không chỉ ăn một quả đắng Trương Mạc. Ông ta nghe tin này, bảo rằng: “Chỉ có Ngụy Chủng là không phản ta”. Ai ngờ Ngụy Chủng cũng chạy theo Trương Mạc. Người nhà Tất Kham bị Trương Mạc bắt, Tháo bảo Kham nên sang đó đầu hàng. Kham ở trước mặt Tháo lạy lục, khóc lóc nói sẽ không hàng. Tháo cũng cảm động đến rơi lệ. Tháo vừa quay lưng đi thì Tất Kham cũng bỏ đi đầu hàng nốt. Lưu Bị sang hàng Tào Tháo.

Trình Dục, Quách Gia đều khuyên nên đề phòng. Tháo bỏ ngoài tai, hết sức thân thiết, ra vào thì ngồi cùng xe, còn sai đi đánh Viên Thuật. Rốt cuộc Lưu Bị vừa tới nơi đã giết Xa Trụ, chiếm Từ Châu, xui Viên Thiệu đánh úp huyện Hứa! Ngay cả một trong ngũ lương tướng của Tào Tháo là Vu Cấm cũng từng làm Tháo kinh ngạc. Vu Cấm bị Quan Vũ vây khốn, liền bỏ đi hàng Quan Vũ. Tháo trố mắt, nói: “Ta biết Cấm đã ba mươi năm nay, ngờ đâu lúc lâm nguy ở chỗ gian khó, lại chẳng được như Bàng Đức sao!”.

Tô Đông Pha từng nhận xét: “Ngụy Vũ giỏi liệu việc mà không giỏi liệu người. Bởi thế nên có lúc coi trọng đối phương mà công lao tiêu tán, có lúc coi nhẹ đối phương mà đi đến chỗ bại”. Cái gọi là “khéo nhìn người, khó ai dối lừa che mắt được” – e rằng chỉ là lời của kẻ nịnh thần khi triều đại đã suy tàn mà thôi (Vương Thẩm viết Ngụy thư sau khi Tư Mã Ý giết Tào Sảng).

Xung quanh Tào Tháo hãy còn rất nhiều huyền thoại, chẳng hạn như câu chuyện “tự mình khắc chế tình cảm, mưu cầu sách lược, không kể là kẻ thù cũ” hay câu chuyện “có tài là dùng”. Sự thật như thế nào?

 Những người thân cận Tào Tháo không có kết cục tốt đẹp

Tào Tháo luôn luôn khao khát nhân tài là sự thực. Vì Tháo cần đến trí tuệ và mưu lược của những nhân tài đó để bù đắp cho chỗ thiếu sót về trí tuệ và mưu lược của bản thân. Về mặt tuyển chọn nhân tài, Tào Tháo phụ thuộc vào nhóm Tuân Úc, Mao Giới, Trần Quần, Thôi Diễm.

Về mặt mưu lược, Tào Tháo phụ thuộc vào nhóm Quách Gia, Lâu Khuê, Lưu Diệp. Ngoài ra còn có rất nhiều nhân vật khác được Tháo tùy nghi hỏi kế. Tập đoàn Tào Tháo do đó mang tính chất một salon chính trị, nơi các chính khách tùy thời mà đến rồi đi. 

Dịch Trung Thiên từng nói rằng Tào Tháo là một gian hùng, nhưng phải kèm thêm chữ “thật đáng yêu”. Đó là bởi vì Tào Tháo trong lịch sử là một người thân thiện, dễ gần. Thực vậy, Tào Tháo là một người trọng tình cảm, hơi sợ vợ (Đinh phu nhân), thích đùa bỡn và rất khôi hài. 

Tào Man truyện là nói đủ nhất về Tháo: “Thái Tổ là người dễ dãi không trọng uy, ưa âm nhạc, con hát ở bên cạnh, thường từ sáng đến tối. Thường mặc áo lụa mỏng, trên mình đeo một cái túi nhỏ có đai lớn để đựng khăn tay và những vật nhỏ, có lúc đội mũ kháp ra gặp tân khách. Mỗi khi cùng người khác đàm luận, nói năng đùa bỡn, không hề che giấu gì cả, lúc vui sướng khoái chí thì cười ầm lên, đến nỗi đầu ngả vào mâm bát ở giữa bàn, thức ăn dính đầy vào khăn vấn đầu”. 

Anh hùng ký cũng nói lúc Tháo đánh Nam Bì “tự hô vạn tuế, ngồi ở trên ngựa mà múa”, đánh Đạp Đốn thì “vỗ vào yên ngựa, ngồi ở trên ngựa vỗ tay, nhảy múa”. Lúc đánh Mã Siêu, Tháo ngồi trên cái hồ sàng (một loại xích đu) để chỉ huy quân đội, có lần còn nói đùa với quân địch rằng “ta cũng là người thôi, chẳng phải bốn mắt hai miệng gì”. 

Bản tính Tào Tháo cũng rất cả tin. Ông ta tin Trương Mạc, tin Lưu Bị, tin Hoàng Cái, mỗi lần như thế đều thua sấp mặt. Nhưng đột nhiên khi chuyển sang đối xử với nhân tài trong tập đoàn mình thì đột nhiên quay ra nghi kỵ. Không phải tự nhiên mà Tào Tháo như thế.

Tập đoàn Tào Tháo từ năm Kiến An trở về sau có một thay đổi vô cùng quan trọng. Tào Tháo đón thiên tử về huyện Hứa đã làm thay đổi hoàn toàn vị thế chính trị của tập đoàn mình. 

Về mặt chính trị đối ngoại, Tào Tháo thu được rất nhiều lợi ích. Tuy nhiên cũng không hẳn là trăm lợi mà chẳng hại gì như Dịch Trung Thiên đã tán tụng. Về mặt đối nội, Tào Tháo vấp phải mâu thuẫn rất lớn. Tập đoàn Tào Tháo giờ là con ốc mượn hồn, bên ngoài vác cái vỏ nhà Hán, nhưng bên trong là con tôm ký cư họ Tào. Tào Tháo cũng không phải chuyển từ chỗ ban đầu muốn phụng thiên tử rồi sau mới thành ép thiên tử. 

Anh hùng ký cho biết Tháo nói chuyện với Lưu Bị, từng lộ ra ý định mưu đồ cho bản thân. Sau này Bị đem việc mách lại với Viên Thiệu. Tháo “tự cắn lưỡi mình đến chảy máu, để răn đời sau về việc lỡ lời”. Thực vậy, ngay từ khi vào Duyện Châu, Tháo đã không còn nghĩ đến chuyện đi về phía tây phụng thiên tử, mà phát triển binh lực sang phía đông. Đó là điều mà người thời Đường từng nói: cứ xem hướng phát binh của Từ Kính Nghiệp là đủ biết hắn trung hay gian.

Chính vì treo đầu dê bán thịt chó, Tào Tháo vấp phải mâu thuẫn. Tháo kêu gọi nhân tài là gọi dưới danh nghĩa nhà Hán, nhưng khi bắt đầu sử dụng thực sự thì lại phải đảm bảo rằng họ phục vụ lợi ích của Tào chứ không phải trung thành với Hán. Chuyện Trình Dục “mới thú vị” và là minh chứng rõ nét nhất.

Hán Hiến đế chọn Dục làm Thượng thư, nhưng Tháo liền lấy cớ “Duyện Châu còn chưa yên ổn”, lấy Dục làm Đông Trung lang tướng, lĩnh Thái thú Tế Âm, “Đô đốc việc ở Duyện Châu”. Đây hoàn toàn chỉ là thủ đoạn chính trị.

Vào thời điểm đó, cái gọi là “nhà Hán” cũng chỉ gói gọn ở Duyện Châu nên Trình Dục dù là Thượng thư hay Đô đốc Duyện Châu sự thì quyền lực vẫn chỉ như thế. Nhưng nếu Trình Dục làm Thượng thư thì thuộc ngạch triều đình, còn làm Thái thú Tế Âm thì lại dưới quyền Tào Tháo. Đó chẳng qua là vì muốn tranh giành nhân tài với nhà Hán, mà cuộc giành giật đó cứ tiếp diễn mãi.

Sau trận Xích Bích, Tào Tháo vỗ vai khen ngợi Dục (Dục từng dự đoán sẽ có liên minh Tôn Lưu, nhưng Tháo bỏ ngoài tai). Cùng lúc đó, Tông nhân (quan chủ quản việc thuộc về tông tộc nhà Hán) cũng dâng trâu rót rượu tiếp đãi Dục. Dục đột nhiên nói: “Biết đủ là chẳng phải nhục, ta nên lui về ở ẩn thôi”, rồi dâng biểu trả binh quyền, về nhà đóng cửa không ra. Quả nhiên sau đó có người tố Trình Dục mưu phản!

Trong suốt tiến trình chính trị của mình, Tào Tháo phải cố gắng nắm giữ quyền lực. Ngũ lương tướng dù tài năng đứng đầu, nhưng vẫn phải lệ thuộc vào sự chỉ đạo của những nhân vật thuộc họ Tào và họ Hạ Hầu như Hạ Hầu Uyên, Tào Hồng, thậm chí là hàng hậu bối như Tào Chân. Ba tuyến quân sự ở đông, nam và tây cũng do Hạ Hầu Đôn, Tào Nhân, Hạ Hầu Uyên nắm giữ quyền lực lớn nhất.

Tào Tháo cũng liên tục xung đột và loại trừ các nhân vật không trung thành với Tào, như Biên Nhượng, Khổng Dung, Lâu Khuê. Lâu Khuê bị giết chính là vì buông ra câu nói muốn làm được như cha con Tào Tháo. Tuy nhiên, đến một thời điểm thích hợp, ngay cả những nhân vật nằm ở cửa giữa họ Tào và nhà Hán, có nhiều đóng góp cho Tào Tháo nhất cũng phải lên máy chém, ví như Tuân Úc

Sau khi thống nhất miền Bắc, Tào Tháo liền đi bước tiếp theo để mưu đồ cho bản thân. Tào Tháo muốn được phong tước công, lập ra công quốc và nhận cửu tích. Tào Tháo liền bàn mưu với Đổng Chiêu. Đổng Chiêu là người Tháo gặp khi tới đón thiên tử. Nếu Tuân Úc là Trương Lương sáng của Tào Tháo, thì Chiêu chính là Trương Lương tối.

Tháo chuyên bàn những chuyện xấu xa mà không thể nói với Úc, như chuyện bắt thiên tử về Hứa hay chuyện lập ra công quốc. Đổng Chiêu đem việc này hỏi ý Úc, Úc cho rằng “vốn hưng nghĩa binh để khuông phò triều đình, yên định quốc gia”, “chẳng nên như thế”.

Tháo “trong lòng bất bình”, rồi mượn cớ xin Úc đi úy lạo quân sĩ ở huyện Tiêu để giữ lại, từ Thượng thư lệnh giáng làm Thị trung, tham mưu việc quân cho Tào Tháo. Ngụy thị xuân thu nói Tháo gởi cho Úc hộp đồ ăn rỗng. Tuân Úc “uống thuốc độc chết”, hoặc ít ra cũng “lo lắng mà chết”.

Cùng chết với Tuân Úc còn có Thôi Diễm. Diễm từng ở trước mặt Viên Thiệu nói rằng thiên tử ở huyện Hứa, đáng nên “giữ yên bờ cõi, tuân theo chức phận”. Về sau Dương Huấn dâng biểu tán tụng Ngụy vương Tào Tháo. Có người chê huấn “dối trá xu phụ quyền thế”, Diễm bình luận rằng: “Xem biểu thì là việc tốt mà! Thời cơ! Thời cơ! Cũng có lúc thời cơ thay đổi thôi” (Thời hồ, thời hồ, hội đương hữu biến thời).

Tháo liền cho rằng Diễm “có ý tứ không khiêm tốn”, bắt làm nô lệ, rồi ban cho cái chết. Mao Giới là đồng liêu cùng tuyển chọn nhân tài với Diễm. Thôi Diễm chết rồi, “Giới trong bụng không vui”. Rồi có kẻ nói rằng Giới đi đường gặp tội nhân mưu phản bị thích chữ vào mặt, nói: “Trời không mưa là vì những việc như thế này”.

Tháo liền bắt Giới tống vào ngục, may chỉ bị cách chức, “một lần trách tội, vĩnh viễn bị ruồng bỏ” cuối cùng chết ở nhà. Cái chết của Thôi Diễm người đương thời đều cho là oan. Dịch Trung Thiên từng suy luận rất nhiều, cuối cùng phải thừa nhận rằng vẫn chưa thể giải thích thông suốt nguyên nhân bị oan khuất của Diễm. Ông cho rằng nếu muốn hiểu được thì chỉ cần “quy hết về cho danh sĩ”.

Đám người Thôi Diễm đều là danh sĩ, có mâu thuẫn với tên hàn môn ít học Tào Tháo. Nhưng thực ra phải quy hết cái chết của bọn họ về cho Hán thần. Đúng như Lư Bật thời Thanh giải thích: “Ngụy Vũ có lòng soán đoạt mà lại muốn tránh tiếng soán đoạt”, Diễm “làm lộ mưu kín, bởi thế mới căm hận mà đẩy vào chỗ chết”. Tào Tháo muốn cướp Hán thì phải dọn sạch đám thần tử đó, tạo ra một phong khí mới trong chính trị. Vậy Tào Tháo đã tạo nên một phong khí như thế nào?

Tào Tháo dùng ‘người tài’ thế nào?

Trong thời kỳ đầu dựng nghiệp, Tào Tháo mượn ngọn cờ nhà Hán để xây dựng lực lượng, chiêu tập nhân tài, nhưng Tào Tháo chưa bao giờ có thể thoải mái sử dụng đám nhân tài đó, mà luôn luôn phải kiềm chế, nghi kỵ. Tào Tháo cần bảo đảm họ phục vụ lợi ích của Tào Tháo chứ không phải nhà Hán. 

Tuy nhiên, Tháo cũng chẳng thể thỏa hiệp mãi mãi. Tào Tháo cuối cùng cũng phải dọn sạch đám thần tử còn sót lại của nhà Hán, bất kể họ là người nào, tài năng ra sao, đức độ đến đâu và công lao đối với Tào Tháo đến bực nào. Cuối cùng, Tào Tháo sẽ tạo ra một thế giới như thế nào?

Tào Tháo ép chết Tuân Úc, Thôi Diễm, bãi chức Mao Giới, Trình Dục, tiến tước công rồi lên tước vương, đã đánh tan thế lực cuối cùng của đám trung thần nhà Hán. Ngay cả người thân thiết của Tháo cũng phải run sợ.

Ngụy lược viết lúc này các tướng đều đã nhận quan hiệu của nước Ngụy, riêng Hạ Hầu Đôn vẫn còn dùng quan hiệu nhà Hán. Đôn liền dâng sớ nói rằng mình “không thích hợp với cái lễ của kẻ không phải thần tử nhà Ngụy”, nói trắng ra là “xấu hổ vì làm quan nhà Hán, mong được nhận ấn của nhà Ngụy”.

Tôn Quyền nhân đó khuyên Tào Tháo lên ngôi thiên tử, bên trong thì Thị trung Trần Quần, Thượng thư Hoàn Giai, tướng quân Hạ Hầu Đôn, Chủ bạ Tư Mã Ý đều khuyên Tháo lên ngôi, nhưng Tháo chỉ nói rằng: “Nếu thiên mệnh ở ta, ta chỉ làm Chu Văn vương mà thôi”. Hồ Tam Tỉnh cho rằng Tào Tháo đem lời của Tôn Quyền nói với quần thần, “ấy là muốn dò xét lòng dạ mọi người đó thôi”.

Lời Tào Tháo tuyên bố chứa hàm nghĩa sâu xa. Tháo khẳng định sẽ không cướp Hán trong thời của mình, nhưng nếu mệnh trời cho họ Tào làm hoàng đế thì việc đó sẽ diễn ra vào đời con trai mình. Tào Tháo gần như là đáp trả trực tiếp lời khuyên của Tư Mã Ý:

“Vận Hán đã hết, mười phần thiên hạ thì điện hạ đã có chín phần, mà vẫn phụng sự họ. Quyền nay xưng thần, là ý của trời và người đó. Ngu, Hạ, Ân, Chu chẳng phải không khiêm nhường, mà là sợ mệnh trời vậy”.

Tào Tháo vừa muốn có tiếng, vừa muốn có miếng. Bấy giờ Hán Hiến đế đã cho Tháo dùng tinh kỳ của thiên tử, ra vào hô “cảnh, tất” để dẹp đường như thiên tử, mũ miện mười hai tua, tua xe bằng vàng, sáu ngựa kéo, năm người đánh xe. Toàn bộ là nghi vệ thiên tử. Tào Tháo chỉ còn thiếu mỗi danh hiệu thiên tử, nhưng Tháo vứt bỏ cái đó để mong thu được cái lớn hơn.

Đó lời ca tụng của hậu thế. Tào Tháo muốn được so sánh với Chu Văn vương Cơ Xương – ba phần thiên hạ đã có được hai, mà vẫn phụng sự nhà Ân. Tiếc là thiên hạ không dễ bị Tào Tháo gạt gẫm. Tháo vẫn được so sánh với Vương, nhưng không phải Văn vương mà là Vương Mãng!

Tào Tháo vừa muốn có được tay gấu, vừa có được vi cá, mà đó là điều mà Mạnh Tử vốn cho rằng không thể được. Tào Tháo phải tiếp tục duy trì tình trạng ốc mượn hồn, nhưng không thể tiếp tục thỏa hiệp giữa phò Tào và phò Hán nữa. Tào Tháo ép chết Tuân Úc, Thôi Diễm, bãi chức Mao Giới còn là để tạo ra một phong khí mới mẻ trong việc tuyển lựa nhân sự.

Tam quốc chí cho biết Thôi Diễm, Mao Giới nắm việc tuyển chọn. Những người được tiến cử “đều là kẻ sĩ thanh liêm chính trực”, “dẫu là kẻ có danh lớn mà phẩm hạnh không đoan chính giữ phận, nhất định không được tiến cử”. Nhưng Tào Tháo đã thay đổi giọng điệu, trở ngược lại nhấn mạnh đến bọn “mang cái danh ô nhục, bị người ta đàm tiếu về đức hạnh, hoặc bất nhân bất hiếu mà kẻ đó có tài trị quốc hay có thuật dụng binh”.

Nếu như Tháo ví Tuân Úc như là Trương Lương thì những người mà sau này Tháo tìm kiếm lại là hình mẫu của Trần Bình, đúng như lời Tháo nói “bức hiếp chị dâu, nhận vàng hối lộ”. Ba lần cầu hiền những năm Kiến An 15, 19, 22, Tháo đều nhắc tới Trần Bình. Những người Tháo giết như Tuân Úc, Thôi Diễm lại chính là Trương Lương. Ấy là bởi vì tình thế chính trị lúc đó, Tào Tháo rất cần những kẻ có tài mà không kể đến liêm sỉ, vì Tào Tháo đang sắp đặt cho con trai mình cướp Hán. Ngược lại, kẻ sĩ tài đức giống như Trương Lương chỉ là vật cản, cần phải nhổ bỏ. 

Hoa Hâm chính là người đóng vai trò Trần Bình mà Tào Tháo mong muốn. Tiểu truyện về Hoa Hâm trong Tam quốc chí được viết ra dưới âm hưởng ngợi ca. Trần Thọ khen Hâm “thanh bạch, phẩm hạnh thuần khiết” và dẫn ra nhiều việc để chứng minh. Lúc Hoa Hâm đi gặp Tào Tháo, tân khách tiễn tặng mấy trăm cân vàng. Hâm đều trả lại cho họ.

Khi làm quan thì có bổng lộc là đem giúp thân thích và người quen cũ, trong nhà không tích trữ tới trăm cân gạo. Ngụy lược khen rằng Hoa Hâm cùng Bỉnh Nguyên, Quản Ninh cùng du học. Người đời khen Hâm là đầu rồng, Nguyên là thân rồng, Ninh là đuôi rồng. Khi Tào Tháo phế Tuân Úc, đã cho Hâm thay làm Thượng thư lệnh.

Tuy nhiên Hoa Hâm thực tế là kẻ hai mặt. Thế thuyết tân ngữ cho biết Hâm cùng Quản Ninh cuốc đất ở trong vườn, làm bật lên một miếng vàng. Quản Ninh cứ thế cuốc luôn, xem nó như đá, ngói. Hoa Hâm thì nhặt lên, nhìn ngó một hồi rồi mới vứt. Lại một lần hai người cùng ngồi một chiếu để đọc sách, chợt có một chiếc kiệu đẹp đi qua cửa.

Quản Ninh chẳng thèm để ý, còn Hoa Hâm thì vứt sách chạy ra xem. Quản Ninh bèn lấy dao cắt chiếu ra làm đôi, nói với Hâm: “Thầy chẳng phải bạn ta vậy”. “Cắt chiếu tuyệt giao” đã trở thành điển tích nổi tiếng ở Trung Quốc. Con người Hoa Hâm vốn là hết sức hâm mộ vinh hoa phú quý, nhưng lại giả bộ thanh cao. Quản Ninh cuối cùng cũng chịu hết nổi nên mới phản ứng một cách quyết liệt.

Lý lịch chính trị của Hoa Hâm rất phức tạp. Đầu tên ông ta làm việc cho Đổng Trác. Nhưng khi Trác thất bại chạy về Trường An thì Hâm viện cớ xin ra làm quan ở ngoài, rồi làm việc cho Viên Thuật, bày mưu cho Thuật đánh Trác. Kế đó Hoa Hâm bỏ Thuật, theo Thái úy Mã Nhật Đê làm quan cho triều đình, được bổ làm Thái thú Dự Chương. Khi Tôn Sách bình định Giang Đông, Hoa Hâm đã mở cửa thành dâng Dự Chương lên cho Sách.

Tôn Thịnh nhận xét rằng “Hâm đã không có phong thái lánh đời ở ẩn của Di Hạo, lại làm mất cái tiết tháo hiến thân tận trung với quân vương của bầy tôi, cho nên mềm lòng với lời khuyên của bọn học trò xấu xa, kết giao với lũ vô lại càn bậy, ngôi vị bị cướp đoạt bởi đứa trẻ ranh, hủy hoại tiết tháo lúc đương thời”. Tôn Sách chết rồi, Tôn Quyền lên thay. Tào Tháo gọi Hâm tới làm quan cho mình, Hâm liền tới ngay, dù Quyền có ý muốn giữ lại. 

Hoa Hâm là một kẻ bất tài về mặt chính trị. Thái Sử Từ từng nhận xét Hâm “không phải là người có tài trù liệu”. Lúc ở Dự Chương, Đồng Chi giả xưng Thái thú ở Lư Lăng, dân chúng ở Bà Dương chia nhau giữ đất, không chịu sự sai khiến của những trưởng lại do Hâm đặt, còn tuyên bố lập một quận riêng. Hâm “không thể dàn xếp xong”. Năm sáu ngàn nhà ở Thượng Liễu họp nhau lại, chỉ đóng thuế, nhưng không thèm đáp ứng lệnh triệu dân đinh. Hâm “cũng chỉ đứng nhìn mà thôi”. Tào Tháo đánh Tôn Quyền, lấy Hoa Hâm làm Quân sư. Chiến dịch đó cũng phải về không, chẳng làm nên trò trống gì. 

Tuy nhiên, Hoa Hâm đến với Tào Tháo đã phát huy rất hiệu quả vai trò của kẻ “bức hiếp chị dâu, nhận vàng hối lộ”. Trong vụ án Phục hoàng hậu, Hoa Hâm là người đã xông vào cung đình bắt hoàng hậu. Phục hậu trốn trong bức vách. Hoa Hâm phá vách lôi ra. Hậu bị nắm đầu, đi chân không, bị giải qua trước mặt Hán Hiến đế.

Hiến đế nói với Ngự sử Đại phu Si Lự rằng: “Si công, thiên hạ yên ổn là như vầy ư?”. Si Lự bấy giờ cũng câm miệng, vì Lự chính là người bới móc tội chứng để Tào Tháo có cớ diệt Khổng Dung, mở đường cho Tào Tháo cướp Hán. Sau khi Tào Phi lên thay làm Ngụy vương, đã thưởng cho Hâm chức Tướng quốc của nhà Hán.

Nhà Ngụy cướp ngôi nhà Hán, công của Hoa Hâm không nhỏ. Nhưng trình độ giả vờ của Hâm rất cao. Lúc Tào Phi xưng đế, Hâm “tỏ sắc mặc không hài lòng” nên bị giáng làm Tư đồ. Tào Phi hỏi Trần Quần rằng sao Quần, Hâm không tỏ vẻ vui mừng.

Trần Quần đã khai thật, rằng cả hai “từng là tôi thần của Hán triều”, nên “trong lòng dẫu mừng vui, nhưng tỏ rõ trên nét mặt như họ, cũng sợ bệ hạ ban thưởng ngay thì thêm tiếng xấu”. Hoa Hâm là ví dụ tiêu biểu cho cái gọi là “có tài là dùng” của Tào Tháo. Rốt cuộc Tào Tháo sẽ gặt hái được những gì?

Bộ mặt của kẻ ác

Phế bỏ Tuân Úc, cất nhắc Hoa Hâm, Tào Tháo đã khép lại nền chính trị của hiền thần Trương Lương, mở ra thời kỳ của những kẻ “bức hiếp chị dâu, nhận vàng hối lộ”, dưới danh nghĩa “có tài là dùng”. Tào Tháo làm vậy không vì một tư tưởng chính trị cao siêu nào cả, mà là vì phục vụ lợi ích chính trị ngay trước mắt. 

Tào Tháo cần chuẩn bị bối cảnh chính trị để xây dựng một triều đại mới, cũng là di sản mà Tào Tháo để lại cho đời sau. Di sản đó đã mang lại những gì?

Không chỉ loại bỏ những hiền thần có tiết tháo, Tào Tháo còn ra tay đồ sát những người liên quan tới nhà Hán. Tháo giết Phục hoàng hậu cùng hai hoàng tử và tông tộc họ Phục hơn trăm người, rồi lập con gái mình làm hoàng hậu; giết luôn Lang Da vương Lưu Hi.

Sau vụ Cảnh Kỷ, Vi Hoảng khởi binh đánh Tháo, Tháo sai triệu trăm quan nhà Hán tới huyện Nghiệp, bảo ai ra cứu lửa thì đứng bên trái, ai không ra thì đứng bên phải, rồi giết hết những người ra cứu lửa vì cái cớ vớ vẩn là họ “mới thực sự là giặc”. Con trai của Tháo là Tào Thực tự ý mở cửa Tư Mã để đi ra. Tháo biết tin, baban lệnh rằng “từ khi Tử Kiến tự ý mở cửa Tư Mã đi ra, ta chẳng tin tưởng các chư hầu nữa vậy”. 

Tào Tháo giống như kẻ tranh giành thiên hạ mà chặt hết chân tay mình, rồi bảo là “ta tất thắng”, rõ ràng là chẳng thể được. Không khí nghi kỵ, khủng bố bao trùm ấy khiến rất nhiều người tài trở nên khiếp sợ.

Giả Hủ “tự biết mình chẳng phải là cựu thần của Thái Tổ, nhưng kế sách mưu tính rất sâu xa, sợ bị người khác nghi ngờ, nên đóng cửa tự giữ mình, nhún nhường không giao tiếp riêng tư với ai, trai gái lấy vợ gả chồng chẳng kết giao với nhà cao môn”.

Nên nhớ Giả Hủ từng giúp Hán Hiến đế thoát khỏi Lý Thôi, Quách Dĩ. Từ Hoảng là thuộc hạ cũ của Dương Phụng, có công phò Hiến đế về Lạc Dương. Tào Tháo ví Hoảng như Chu Á Phu – người dẹp loạn chấn hưng nhà Hán. Hoảng “trọn đời chẳng giao kết rộng rãi”. 

Đến con mình còn không tin được, nên Tháo không bao giờ còn có thể yên tâm mà đi tranh giành thiên hạ. Tháo đánh Mã Đằng, Tôn Quyền, Trương Lỗ, Lưu Bị đều là đi vội, về gấp. Mưu sĩ Pháp Chính từng nhận xét rằng sau khi diệt Trương Lỗ, Tào Tháo bỏ qua kiến nghị sáng suốt, không thừa cơ đánh Ba, Thục, mà “vội vàng về bắc”, không phải vì “trí hắn không kịp hay sức hắn không đủ, mà vốn là vì trong nội bộ có điều lo lắng”.

Nhà nghiên cứu Lê Đông Phương đã chỉ ra: từ sau trận chiến Xích Bích, những chiến dịch quân sự mà Tào Tháo thực hiện đều có điểm chung là “không làm tới cùng”, lúc thì không truy đuổi tàn quân (Mã Siêu), lúc thì chưa lập công đã quay về (Tôn Quyền), lúc thì đã chiếm được nhưng lại để mất (Trương Lỗ, Lưu Bị). Đó gọi là giữa đường phải bỏ. Sự nghiệp thống nhất thiên hạ của Tào Tháo đã tan thành bọt nước.

Dưới bàn tay thanh lọc của Tào Tháo, số nhân sĩ tài đức kiêm toàn dần dần rơi rụng. Bên cạnh Tào Tháo chỉ còn lại những nhân tài chỉ mở miệng khi cần thiết (như Giả Hủ), hoặc kẻ có khả năng nằm liệt giường liệt chiếu, giả vờ giả vịt (như Tư Mã Ý), hoặc loại người đón ý chủ nhân để tâu việc cho lọt tai (như Lưu Diệp). Những người này tuy chưa rời ra khỏi ranh giới của năng thần, nhưng ở mức độ nào đó đã tiệm cận với gian thần. Chính Tư Mã Ý sau này đã đạp nát cơ nghiệp mà Tào Tháo khổ công gầy dựng. Nhưng sở dĩ Tư Mã Ý làm được như thế là bởi phong khí chính trị do Tào Tháo sáng tạo. 

Lư Bật đã chỉ ra rằng phong khí chính trị cuối Hán là phong khí “sùng thượng tiết nghĩa” vì thế “Tháo tuy gian hùng mà không dám di dời vạc Hán”, thế nhưng “phong khí trọng nghĩa thời Đông Hán tới Ngụy mà một phen biến đổi, thành ra như thế đâu phải không có nguyên do”. Tào Tháo muốn cướp ngôi nhà Hán thì phải tuyển chọn bọn người có tài nhưng bất nghĩa.

Bản chất của “có tài là dùng” trên thực tế là vừa có tài, vừa không đếm xỉa đến liêm sỉ, tiết nghĩa. Vì thế khi Tào Phi cướp Hán, mọi việc hết sức dễ dàng. Tào Phi mượn lấy danh nghĩa vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, tiếp nhận sự nhường ngôi cho nhà Hán, đồng thời cũng vẽ ra một con đường lớn để cho hươu chạy. 

Khi Viên Thuật, Viên Thiệu muốn lên ngôi thay nhà Hán, họ vấp phải rất nhiều lực cản từ công luận. Thậm chí cả hai đều rơi vào tình trạng nội bộ lục đục, thuộc hạ phản bội. Mọi người cho rằng việc thay thế một triều đại vốn phải nằm ở mệnh trời, phải hội đủ nhiều yếu tố. Nhưng Tào Tháo, Tào Phi đã chứng minh rằng chỉ cần người làm bề tôi có đủ sức mạnh là có thể mượn cớ nhường cho người hiền để cướp ngôi.

Từ Ngụy cho đến sơ Đường, chỉ cần bề tôi có chút lực lượng là lập tức làm loạn, triều đại không mấy khi kéo dài được tới trăm năm. Đó là do Tào Tháo mở đầu. Trần Thọ nói rằng họ Tư Mã cướp ngôi nhà Ngụy chính là “như việc cũ thời Hán Ngụy” (như Hán Ngụy cố sự). Lư Bật nói rằng: “năm chữ này ẩn chứa ý nghĩa vô cùng”.

Ông nói: “Ngụy lập quốc chưa lâu, Tấn đã cướp mất, tuy đạo trời có vay trả, nhưng cũng bởi vì cha con Tháo đối với kẻ sĩ cương trực chẳng thể dung nạp, bẻ gãy sĩ khí”. Chính Tấn Minh đế khi nghe kể lịch sử xây dựng triều Tấn đã phải ôm mặt khóc, nói rằng như thế thì nhà Tấn sao được lâu dài!

Tào Tháo muốn để lại hình ảnh giống như Văn vương, nhưng con đường chính trị bắt buộc ông ta phải “ngoài khoan hòa, trong nghi kỵ”, sau đó là vấy máu nhiều người. Cho dù là chuyện giết người nơi hẻo lánh như nhà Lã Bá Sa, cho dù Vương Thẩm, Trần Thọ và nhiều người khác ra sức tán tụng, Tào Tháo vẫn không khỏi lộ ra bộ mặt trắng bệch của kẻ ác. Đó là chưa kể kẻ địch của Tào Tháo sẽ nhân đó mà vu khống, như chuyện Viên Trung, Hoàn Thiệu.

Tào Man truyện kể rằng Viên Trung lúc làm quốc tướng nước Bái đã từng muốn dùng pháp luật trừng trị Tào Tháo (nên nhớ hồi trẻ Tháo cũng là cường hào ác bá). Hoàn Thiệu là người nước Bái cũng khinh Tào Tháo. Lúc Tháo làm Duyện Châu mục, người quận Trần Lưu là Biên Nhượng nói năng động chạm đến Tháo. Tháo giết Nhượng và cả nhà Nhượng. Viên Trung, Hoàn Thiệu lánh nạn tới Giao Châu. Tào Tháo sai sứ tới chỗ Sĩ Nhiếp bắt diệt cả dòng tộc của hai người đó. Hoàn Thiệu ra thú tội, quỳ lạy trước sân. Tháo nói: “Lạy mà thoát chết được sao?”, rồi giết Thiệu.

Chuyện Biên Nhượng là có thật. Tào Tháo giết Biên Nhượng đã làm danh sĩ Duyện Châu chấn động. Đám người Trần Cung cũng vì thế mà “tự nghi ngờ” nên mới bỏ Tháo mà đón Lữ Bố. Nhưng chuyện Viên Trung, Hoàn Thiệu thì có vấn đề.

Hậu Hán thư, Viên Hoành truyện có phụ chép tiểu truyện về Viên Trung. Phạm Diệp cho biết Trung “từ Bột Hải đi về nam tới Giao Chỉ; Hiến đế đóng đô ở Hứa, triệu làm Vệ úy, chưa đến nơi thì chết”. Rõ ràng chẳng phải bị Tào Tháo giết hại. Hoàng Sơn chỉ ra rằng con của Trung là Bí trước đó đã bị Khăn Vàng giết, em Trung là Hoành thì không đáp ứng lời trưng triệu làm quan, chết ở nhà, đủ thấy rằng “gia tộc của Trung chẳng bị diệt”.

Nhân vật Hoàn Thiệu mới rắc rối, vì các tài liệu khác chẳng nói Hoàn Thiệu mà nói người đó là Hoàn Diệp. Danh sĩ ưu vụ luận của Trương Phố nói “Khổng Văn Cử, Hoàn Văn Lâm đều vì căm hận mà bị giết”. Hoàn Văn Lâm ở đây là Hoàn Diệp. Hậu Hán thư chép rằng Diệp “làm khách ở Giao Chỉ, vì bọn người hung ác vu cáo, chết ở trong ngục Hợp Phố”, không phải là chết trong tay Tào Tháo (Sĩ Nhiếp là Thái thú Giao Chỉ).

Hoàng Sơn khảo sát Hậu Hán thư, Hoàn Vinh truyện cũng kết luận: “Trong khoảng năm Sơ Bình, người đi Giao Chỉ là Hoàn Diệp, chẳng có ai là Hoàng Thiệu”. Nói tóm lại, Tào Man truyện kể ra ba việc, nhưng chỉ có một việc là có thật, là nhân hình tượng hung ác của Tào Tháo mà tô đậm thêm.

Tào Tháo nghi kỵ, giết người vốn không phải bản tính, khi không cần thiết thì Tháo sẽ không tự tay giết (như Nễ Hành, Trương Tú). Tào Tháo giết người chủ yếu là do nhu cầu chính trị. Bởi vì Hán đế quá nhu nhược, nhà Hán đã tàn tạ, Tào Tháo mới phải đứng ra nắn sửa (“thiết nghĩ quốc gia nếu không có Cô, chẳng biết có bao người xưng đế, bao kẻ xưng vương”).

Có thực thế chăng? 


Ngô Du

 
 
 

 

One comment

  1. […] Đường tới gian hùng Chí ít là đến thời Đông Tấn, hình tượng Tào Tháo “năng thần thời trị, gian hùng thời loạn” đã được Tôn Thịnh nhắc tới Các nhà nghiên cứu hiện đại dựa vào câu nói này đã chỉ ra: Tào Tháo từng có thời kỳ muốn làm năng thần, rồi sau… — Read on fandienanh.com/2020/10/22/giai-ma-mat-trai-cua-tao-thao/ […]

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s