Phim ảnh Sài Gòn Xưa

unnamed

Sài Gòn vào những thập niên 1950, 1960 và đầu thập niên 1970 đa số các rạp xi-nê đều chiếu phim ngoại quốc nhập từ Pháp. Đó cũng là lý do tại sao phim Mỹ lại nói tiếng Pháp hoặc phim nói tiếng Mỹ và có phụ đề (sous-titre) tiếng Pháp. Tên phim thì đa số bằng tiếng Pháp, dù là phim Mỹ. Phần đông các phim, dù của Pháp hay của Mỹ, đều có phụ đề Việt ngữ để khán giả có thể theo dõi. Ngoài ra, một số phim nói tiếng Pháp lại có phụ đề cả ba thứ tiếng Việt-Hoa-Anh…

Nói đến chuyện phụ đề Việt ngữ, tôi xin ghi lại một chuyện khá tức cười. Trong một phim tôi không nhớ tên, có cảnh người nữ diễn viên bồng đứa con còn ẵm ngửa và bên dưới có phụ đề: “Để em bỏ con vô nồi”. Khán giả cười ồ, dù cảnh trên màn ảnh không có gì để cười. Hóa ra những người làm phụ đề sơ xuất trong việc bỏ dấu: chữ ‘nôi’ bị biến thành ‘nồi’ thay vì “Để em bỏ con vô nôi”!

Theo tôi, phụ đề Việt ngữ là cách hay nhất giúp khán giả tiếp cận với tình tiết trong phim. Tuy nhiên, có nhiều phim vì diễn viên nói vừa nhanh vừa dài nên phụ đề cũng phải chạy chữ cho kịp khiến khán giả đọc ‘hụt hơi’, chưa hết câu này đã xuất hiện câu khác. Khổ nhất là những người đọc chậm theo kiểu… ‘bình dân học vụ’.

… Ngoài phụ đề Việt ngữ, xi-nê Sài Gòn xưa còn dùng hình thức chuyển âm, ngôn ngữ ngày nay gọi là ‘lồng tiếng’. Chuyển âm thường áp dụng cho những phim bình dân như loại phim ca-vũ-nhạc của Ấn Độ, sản xuất từ Bollywood…

… Một trong những phim tôi ‘mê’ nhất là Vertigo với các tài tử Kim Novak, James Stewart. Đạo diễn Alfred Hitchcock làm phim Vertigo theo tiểu thuyết D’Entre les Morts của tiểu thuyết gia Pháp Boileau-Narcezac, hai ông viết chung, một ông tên là Boileau, ông kia tên là Narcezac. Nhà văn Hoàng Hải Thủy đã dựa theo tiểu thuyết D’Entre les Morts để phóng tác thành truyện Giữa những người đã chết.

Hồi đó, Sài Gòn chiếu rất nhiều phim Hitchcock cho nên giới ghiền xi-nê gọi chung những phim kinh dị là ‘phim Hitchcock’ dù phim không thực sự do Hitchcock đạo diễn.

Trong ngôn ngữ Sài Gòn thời đó, người ta còn dùng từ ‘hít-cốc’ để diễn tả sự căng thẳng, quái đản hay nhuộm màu sắc trinh thám.

Có một loại phim cũng rất ăn khách với những màn nổ súng, ‘bắn chậm thì chết’. Người Sài Gòn gọi nôm na là ‘phim cao-bồi’ (cowboy), ‘phim miền Tây’ (Western Movies) với những cảnh cưỡi ngựa, bắn súng lồng trong cốt truyện ‘thiện thắng ác’, ‘anh hùng thắng gian tà’ hoặc ‘da trắng thắng da đỏ’. Người hùng trong những phim này phải kể đến Gary Cooper, John Wayne, Clint Eastwood, Burt Lancaster, Steve McQueen… trong những bộ phim miền Tây nổi tiếng như Gunfight at the O.K. Corral (với Burt Lancaster, Kirk Douglas) và The magnificient seven (Les sept mercenaires – Bảy tay súng oai hùng với các tài tử Yul Brynner, Steve McQueen).

Sài Gòn đã chiếu quá nhiều phim tuyệt hay mang tính cách kinh điển. Theo tôi, những phim dưới đây được xếp vào hạng ‘kiệt tác’ đối với dân ghiền xi-nê thời đó:

Casablanca: phim tình cảm với một mối tình đẹp giữa Rick (Humphrey Bogart) và Isla (Ingrid Bergman) trong những thời khắc của định mệnh và chiến tranh.

Gone with the wind (Cuốn theo chiều gió) với nàng Scarlet trong bối cảnh nội chiến Nam-Bắc Mỹ đã làm thổn thức bao trái tim vì cuộc tình lãng mạn qua diễn xuất của các tài tử nổi danh Vivian Leigh, Clark Gable.

Roman Holiday (Vacance Romaine – Nghỉ Hè La Mã), nàng công nương Audrey Hepburn và một phóng viên do số phận run rủi đã có những thời khắc đẹp bên nhau. Cảnh thơ mộng nhất phải kể đến là lúc cặp tình nhân chở nhau trên chiếc Vespa đi khắp Florence.

Bác sĩ Zhivago mang chủ đề tình yêu mạnh mẽ và thơ mộng trong những tháng ngày tuyệt vọng của cuộc sống tại Nga, mang dáng dấp bàng bạc của thời điêu linh sau 1975 tại Việt Nam.

City Lights (Ánh đèn đô thị) là một phim câm mang tính kinh điển của thời Charlie Chaplin với vai diễn độc đáo Charlot, một gã lang thang yêu một cô gái bán hoa bị mù hai mắt. Tình yêu khiến anh mạnh mẽ trong cuộc chiến vượt lên sự bần cùng. Phim câm, cười mà rơi lệ!

Love Story (Chuyện tình), phim đã đưa Ali McGraw và Ryan O’ Neal lên hàng các ngôi sao, đồng thời đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa hiện sinh.

Sài Gòn trước 1975 chiếu nhiều loại phim và mỗi tài tử nổi tiếng đều có những fans hâm mộ riêng. Theo tôi, nổi nhất và có nhiều người hâm mộ nhất là cô đào sexy BB. Nữ minh tinh người Pháp Brigitte Bardot, sinh ngày 28/9/1934, nổi tiếng từ năm 1956 qua phim Et Dieu Créa La Femme (And God Created Woman) do Roger Vadim đứng ra đạo diễn và chính ông là chồng của BB.

Trong suốt cuộc hôn nhân với BB (1953-1957) ông đã biến người phụ nữ trẻ con (child-woman) thành một hình tượng quyến rũ của phái đẹp. Những phim tiếp theo như Babette s’en va-t-en guerre (1959), La Verité (1960) đã được trình chiếu tại các rạp xi-nê Sài Gòn và lúc nào cũng đông nghẹt người đến để xem cô đào sexy, tóc vàng, ‘môi cong’.

Không biết tôi có dùng đúng chữ để diễn tả cặp môi BB? Cặp môi đó lúc nào cũng chờ đợi, mời gọi những cái hôn và chính cặp môi đó sau này trên Đà Lạt có một loại hoa hồng mang tên Brigitte Bardot.

Đã có không ít cô gái Việt vào các thập niên 50-60 lấy BB làm khuôn mẫu. Theo tôi, không thể nào có một cặp môi thứ hai, không ai có thể bắt chước được BB với cặp môi… thiên phú! BB cũng là thần tượng của giới học sinh và sinh viên với mái tóc dài buông lơi đến quá lưng rất quyến rũ. Tóc BB lại đánh rối phía trước nên nhiều nữ sinh hồi đó cũng bắt chước kiểu tóc này khiến trường Trưng Vương phải tung ra chiến dịch chấn chỉnh: nữ sinh nào tóc đánh rối quá cao đều được các bà giám thị đưa vào văn phòng, bắt gỡ tóc và chải lại!

‘Quả Bom Sex’ thứ hai là Sophia Loren, cũng sinh năm 1934 như BB, nhưng lại là cô gái Ý, sống cuộc đời nghèo khổ tại Naples. Và cũng như BB, cô lấy ông chồng làm đạo diễn, Carlo Ponti, năm 1957.

Những phim hay nhất của Sophia Loren phải kể đến The Pride and the Passion (1957, đóng chung với Frank Sinatra), It Started in Naples (1960, với Clark Gable) và El Cid (1961, với Charlton Heston). Năm 1961, Sophia Loren đoạt giải Oscar qua phim La Ciociara (Two Women) đến khi về già vẫn còn nhận một giải Oscar vào năm 1991.

Kiều nữ thứ ba được dân ghiền xi-nê ái mộ là Gina Lollobrigida. Phim hay nhất làm tôi mê mẩn là Thằng gù Nhà thờ Đức Bà (Notre Dame de Paris) năm 1956 với Gina trong vai người đẹp Esmeralda và Anthony Quinn trong vai anh gù Quasimodo theo truyện của Victor Hugo.

Đây cũng là phim màu đầu tiên dựa theo tiểu thuyết và sau này tôi mới biết nguyên bản của phim chỉ có 2 nhân vật chính nói tiếng Anh còn những diễn viên người Pháp đều được lồng tiếng Anh. Trong khi đó tại Sài Gòn dù xem phim Mỹ vẫn nghe tiếng Pháp. Thật tréo cẳng ngỗng giữa 3 ngôn ngữ Anh-Pháp-Việt trong thị trường điện ảnh tại Sài Gòn.

Sẽ không công bằng khi bỏ qua các minh tinh miền Nam một thời vang bóng như Kim Cương (trong Lòng nhân đạo, Ngọc bồ đề), Trang Thiên Kim (Mục Liên Thanh Đề, Trương Chi…), Mai Trâm (Chúng tôi muốn sống), Khánh Ngọc (Ràng buộc, Ánh sáng miền Nam…) Những phim khá ăn khách thuộc loại cổ điển còn phải kể tới Lâm Sanh – Xuân Nương, Phạm Công – Cúc Hoa, Lục Vân Tiên, Quan Âm Thị Kính… những phim thuộc loại tình cảm-xã hội như Kiếp hoa, Ảo ảnh, Sóng tình, Hè muộn, Trường tôi, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Loan Mắt nhung,…

Image

Năm 1957 là năm điện ảnh hoạt động mạnh mẽ nhất tại miền Nam, chỉ riêng trong năm này, các hãng phim tư nhân đã sản xuất gần 40 phim. Một số hãng phim đã xuất hiện với các tên như Cosunam, Tân Việt, Việt Thanh, Mỹ Vân, Văn Thế, Trường Sơn, Đông Phương, Liên Hiệp, Viễn Đông, An Pha, Hương Bình… Đã có những triệu phú trong ngành điện ảnh Sài Gòn như Ưng Thi (chủ khách sạn Rex và các rạp Rex, Văn Hoa Đa Kao, Văn Hoa Sài Gòn); Nguyễn Thị Lợi (Giám đốc Cosunam Film), Thái Thúc Nha (Giám đốc Alfa Film) và Trương Vĩ Nhiên (Viễn Đông Film).

Cuối năm 1957, hãng Mỹ Vân tung ra bộ phim Người đẹp Bình Dương được trình chiếu vào dịp Noel và năm mới 1958 với một chiếc lược quảng cáo rầm rộ. Cuốn phim đã thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo khán giả và đồng thời giới thiệu một gương mặt mới của nền điện ảnh miền Nam: Thẩm Thúy Hằng.

Tên thật của Thẩm Thúy Hằng là Nguyễn Kim Phụng, sinh năm 1941, nguyên quán bố mẹ gốc Hải Phòng, và lớn lên tại An Giang. Vào một ngày gần như là định mệnh, Phụng được thấy một trang báo có đăng quảng cáo cuộc thi tuyển diễn viên điện ảnh của hãng phim Mỹ Vân. Giấu cha mẹ, cô nữ sinh Phụng, khi đó mới 16 tuổi, học lớp Đệ Tứ, ghi tên dự tuyển.

Giữa muôn ngàn đóa hoa hương sắc, với những gương mặt sáng ngời của những ngôi sao nổi tiếng thuộc lớp ‘đàn chị’ như Kim Vui, Khánh Ngọc, Kiều Chinh, Trang Thiên Kim… bà chủ hãng phim Mỹ Vân đã tinh ý phát hiện thấy Phụng. Cô nữ sinh Nguyễn Kim Phụng đã vượt qua hơn hai ngàn thí sinh, bước lên đài vinh quang bằng giải nhất của cuộc tuyển lựa bên phía nữ.

Từ vai diễn đầu tiên với vai Tam Nương trong Người Đẹp Bình Dương, đóng cặp với nam diễn viên Nguyễn Đình Dần trong vai Hoàng tử, Thẩm Thúy Hằng bước lên ngôi vị nữ diễn viên khả ái nhất của màn ảnh Sài Gòn vào cuối thập niên 50 đầu thập niên 60.

Biệt danh Người Đẹp Bình Dương xuất hiện từ đó và Thẩm Thúy Hằng đã đóng trên dưới 60 phim nổi tiếng thời đó là: Trà Hoa Nữ, Ngưu Lang-Chức Nữ, Sự Tích Trầu Cau, Bạch Viên Tôn Cát, Sài Gòn Vô Chiến Sự, Nửa Hồn Thương Đau, Đôi Mắt Huyền, Oan Ơi Ông Địa, Dang Dở, Tơ Tình, Nàng, Bóng Người Đi, Ngậm Ngùi, Mười Năm Giông Tố, Sóng Tình, Xin Đừng Bỏ Em…

Phim đầu tay của Thẩm Thúy Hằng, Chiều Kỷ Niệm, với độ dài 1 giờ 45 phút, là phim thuộc thể loại tình cảm xã hội do Lê Mộng Hoàng đạo diễn. Bộ phim đen trắng được tạp chí Màn ảnh Sài Gòn ca tụng:

“Ngay ngày chiếu cho khán giả xem, đồng bào đã chen chúc tới hai rạp Rex và Văn Hoa để giành vé. Chỉ trong ngày đầu công chiếu, rạp Rex đã thu về được hơn một triệu tiền Việt Nam, còn Văn Hoa thu về hơn bảy trăm ngàn đồng. Sau đó, suốt trong một tuần lễ phim chiếu, ngày nào cũng đông như vậy, đến nỗi cuốn phim được chiếu tiếp sang tuần thứ nhì. Điều này, là một hiện tượng hiếm mà khán giả dành cho phim Việt nam”.

Phim cuối cùng của Thẩm Thúy Hằng được quảng cáo chiếu tại các rạp Khải Hoàn, Casino Đakao, Kim Châu và Lux trước ngày Sài Gòn thất thủ là một phim hài mang tên Chàng ngốc gặp hên. Phim này còn có sự hiện diện của La Thoại Tân cùng các danh hài Văn Chung, Thanh Việt và Tùng Lâm.

Chàng ngốc gặp hên được chiếu tại các rạp từ ngày 21/3/1975, chỉ cách ngày các cán binh miền Bắc tràn ngập Sài Gòn đúng 1 tháng 9 ngày. Phải chăng đó cũng là một ‘điềm dữ’ báo trước… các chàng ngốc gặp hên (?!)…


Nguyễn Ngọc Chính
(Hồi ức một đời người)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s