Những dòng chảy của điện ảnh Việt

1 . Phim thị trường đang chiếm ưu thế

Từ năm 1975 đến nay, điện ảnh Việt có nhiều thăng trầm, có khi phim Nhà nước chiếm chủ đạo như giai đoạn 1975-1990 và 1995-2007, có khi phim tư nhân chiếm ưu thế như giai đoạn 1990-1995 và hơn 10 năm gần đây. Điện ảnh thế giới có nhiều dòng chảy, nhưng nhìn lại 10 năm qua, điện ảnh Việt chỉ có 3 dòng chảy chính, chủ đạo vẫn là phim thị trường, kế theo là thưa thớt các phim nghệ thuật, và cuối cùng là phim Nhà nước.

Nếu quan niệm thị trường là nơi có người mua bán, tiêu thụ sản phẩm thì loại phim nào cũng có thị trường của nó, dù ít hoặc nhiều. Nhưng khái niệm phim thị trường ở đây là nhằm để chỉ những phim được sản xuất với mục đích thương mại, tìm kiếm lợi nhuận tối đa, các yếu tố còn lại thường chỉ phục vụ cho giải trí đơn thuần. Hơn 10 năm qua, đây là dòng phim chủ đạo của điện ảnh Việt.

 

Chú thích ảnh
“Gái nhảy” (2003) là dấu mốc cho sự hồi sinh của phim thị trường

 

Đầu thập niên 1990, điện ảnh Việt (chủ yếu tại TP.HCM) nổi lên với dòng phim thị trường – phim “mì ăn liền”, sản xuất nhanh và đầu tư thấp – rất ăn khách, nhưng chất lượng nghệ thuật thấp. Năm 1990, cả nước sản xuất 28 phim điện ảnh, chủ yếu trong số này là phim “mì ăn liền”. Sau đó thì rơi vào khủng hoảng trầm trọng trong 7-8 năm, đến khi Gái nhảy (2003) của Lê Hoàng công chiếu, với doanh thu kỷ lục là 12 tỷ đồng, phim thị trường mới thực sự trở lại.

Thu hút từ doanh thu…

Từ hiệu ứng của Gái nhảy, nhiều nhà sản xuất tư nhân lại vào cuộc, từ mỗi năm làm 4-5 phim, ngang bằng số lượng với phim Nhà nước: năm 2013 có 19 phim (3 phim Nhà nước đặt hàng), 2014 có 24 phim (2 phim đặt hàng), 2015 có 40 phim (9 phim đặt hàng). Từ 2016 đến nay thì gần như vắng bóng phim Nhà nước, dù các dự án vẫn nóng… trên bàn giấy. Năm 2017, lần đầu tiên LHP Việt Nam không có phim Nhà nước, chỉ có 16 phim của tư nhân tham gia dự thi.

“Tôi nghĩ điện ảnh là một nghề, mà nghề thì phải hướng đến chuyên nghiệp, tức là phải sống được bằng nghề, phải thương mại. Khi nền tảng thương mại vững sẽ có đủ rạp, có khán giả, có nhu cầu phát triển đa dạng. Lúc ấy sẽ có nhiều quỹ cho phim độc lập, phim thể nghiệm, phim tác giả… sẽ có nhiều nhu cầu xem những phim khác với phim thương mại. Thực tế thế giới cho thấy khi mà thương mại phát triển nó cũng cần nghệ thuật, còn khi nghệ thuật được nhiều sự đồng cảm thì cũng có thương mại” – đạo diễn Nguyễn Quang Dũng nói.

Sau Gái nhảy (2003), sự bùng phát của điện ảnh Việt từ năm 2007, với đỉnh cao là Dòng máu anh hùng (đạo diễn: Charlie Nguyễn) – một phim dung hòa được thị trường và nghệ thuật. Năm này còn có nhiều phim đáng chú ý như Vũ điệu tử thần (Bùi Tuấn Dũng), Giá mua một thượng đế (Hồ Ngọc Xum), Em muốn là người nổi tiếng (Vũ Xuân Hưng)…

Mấy năm sau, phim Giải cứu thần chết (2009) cán mốc 20 tỷ đồng tiền vé, rồi Long Ruồi (2011, 42 tỷ đồng), Tèo Em (2013, 80 tỷ), Tháng năm rực rỡ (2018, 84 tỷ), Quả tim máu (2014, 85 tỷ), Để Mai tính 2 (2014, 101 tỷ), Em là bà nội của anh (2015, 102 tỷ), Siêu sao siêu ngố (2018, 109 tỷ), Em chưa 18 (2017, hơn 171 tỷ)…

 

Chú thích ảnh
Hơn 171 tỷ đồng tiền vé, “Em chưa 18” từng là phim có doanh thu cao nhất thị trường Việt Nam, hơn cả các bom tấn nhập ngoại

 

Tổng doanh thu 4 phim Việt Tết Mậu Tuất (2018) là hơn 100 tỷ đồng. Theo CGV, tổng doanh thu phòng vé năm 2008 vào khoảng 6 triệu USD, năm 2015 là hơn 100 triệu USD. Đến năm 2017, doanh thu là 3.250 tỷ đồng, phim Việt chiếm 25%, thu hút hơn 45 triệu lượt khán giả đến xem ở hơn 760 rạp chiếu.

Chính những con số trên đây làm nên sức hút và sức mạnh của phim thị trường, nó còn gián tiếp tác động đến các quyết định đầu tư, tài trợ của phim Nhà nước. Từ sau năm 2015, khi phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (đạo diễn: Victor Vũ) đạt doanh thu hơn 77 tỷ đồng, các quyết định đặt hàng của Nhà nước đã thay đổi theo hướng phải có doanh thu – nghĩa là có người xem thực sự – không khả thi thì không đầu tư. Gần chục dự án vẫn nằm chờ kinh phí là vì vậy.

 

Chú thích ảnh
Cảnh trong phim “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”

 

… và hơn thế nữa

Phải lưu ý một điều: phần lớn người mua vé vào rạp không phải là dân chuyên nghiệp với điện ảnh, nên tính chuyên môn và hàn lâm với họ không phải là ưu tiên. Phim thị trường thắng thế vì đa số có kịch bản dễ hiểu, câu chuyện “mủi lòng”, cách kể chuyện hấp dẫn, “không mệt đầu”, nên dễ gần gũi với số đông. Những phim thị trường được đánh giá cao hơn mặt bằng chung, nếu như họ cài cắm được vài yếu tố hoặc thủ pháp nghệ thuật, nhưng cũng đừng quá nhiều và quá nặng.

“Đa số mọi người sẽ nói tôi không nhớ gì nhiều về điện ảnh Mỹ lúc khai sơ, nhưng tôi rất ấn tượng với những phim của Charlie Chaplin, Buster Keaton, Laurel and Hardy… Đây là những danh hài và những người tiên phong làm phim thị trường từ khi mới có điện ảnh. Chỉ những người thực sự đam mê phim ảnh mới biết đến The Jazz Singer, The Wizard Of Oz, Metropolis, Birth Of A Nation… Ngay từ thời kỳ đầu, khi chưa có sự phân loại rõ ràng, thì những gì ăn khách và giải trí vẫn chiếm ưu thế hơn, đó cũng chính là lịch sử của Hollywood – kinh đô của những phim thị trường hoành tráng và ăn khách khắp thế giới” – nhà sản xuất Jimmy Nghiêm Phạm dẫn chứng.

“Phải nói phim tư nhân ngày càng tốt hơn, bởi họ có điều kiện học hỏi từ nhiều liên hoan phim thế giới. Họ làm phim dựa trên tiêu chí phải thu hút được khán giả, có doanh thu, bán được phim. Vậy nên họ đo lường nhu cầu thị trường, bám sát thị hiếu khán giả” – trả lời báo Tuổi trẻ, Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL Vương Duy Biên nhìn nhận.

Trước bối cảnh như vậy, cộng với việc phim Nhà nước và phim nghệ thuật đang còn quá thưa thớt, ít điểm nhấn, việc nhiều nhà đầu tư, nhà sản xuất ngỡ điện ảnh Việt chỉ có mỗi dòng phim trường cũng là điều dễ hiểu.

Thị phần của các đơn vị chiếu phim

Đầu năm 2017, sàn chứng khoán KDB Daewoo của Hàn Quốc khảo sát 5 đơn vị chiếu phim tại Việt Nam (với tổng thị phần là 98%), thì tỷ lệ như sau: CJ-CGV (43%), Lotte (30%), Platinum (10%), Galaxy (9%) và BHD (6%). Còn theo số liệu của Moveek, thì hiện tại CGV có 63 cụm rạp, Lotte có 38, Beta có 17 rạp, Galaxy có 15, BHD có 9, Starlight có 7, Cinestar có 4 và Platinum có 2. Các cụm rạp này chủ yếu do tư nhân và nước ngoài làm chủ, còn đang tăng trưởng rất nhanh, nên phim thị trường ngày càng rộng… đất diễn.

Phim thị trường hiện là “xương sống” của điện ảnh Việt

“Vai trò của phim thị trường trong giai đoạn hiện nay khá quan trọng, nếu không muốn nói là xương sống của điện ảnh Việt Nam. Chỉ khi ổn định về tài chính thì khi ấy tính nghệ thuật của điện ảnh Việt mới thực sự có đường băng cất cánh, vừa có thể gây tiếng vang với quốc tế, vừa sống đẹp với chính thị trường nội địa, một điều tưởng dễ mà khó với tình hình hiện có” – biên kịch Châu Quang Phước nhận định

2. Phim nghệ thuật – ‘Riêng một góc trời’

Trong 10 năm qua, số phim nghệ thuật hàng năm của Việt Nam chỉ đếm trên đầu ngón tay, nhưng so với tỷ lệ thường thấy trên thế giới (chiếm chừng 2-3% số lượng chung), số lượng như vậy cũng tạm ổn.

Chú thích ảnh
 

Phim “Cha và con và…” (2015) dù lọt vào đề cử giải Gấu vàng cho Phim hay nhất tại Liên hoan phim Berlin, nhưng đường ra rạp tại Việt Nam lại hẹp lối

Nếu phim thị trường thu hút khán giả đại chúng, thì phim nghệ thuật dường như chỉ dành cho giới làm nghề. Còn nhớ Trăng nơi đáy giếng (đạo diễn: Vinh Sơn) ra rạp cuối tháng 10/2009, sau 14 ngày bán được gần 2.000 vé. Phim Nước 2030 (đạo diễn: Nguyễn Võ Nghiêm Minh) xong từ năm 2014 mà đến nay còn chưa có cơ hội ra rạp bán vé rộng rãi, dù đã chiếu ở Liên hoan phim Berlin lần 64 (tháng 2/2014) và Liên hoan phim Busan (tháng 10/2014). Số phận của Cha và con và… (đạo diễn: Phan Đăng Di) cũng vậy, dù phim đã lọt vào danh sách đề cử giải Gấu vàng cho Phim hay nhất tại Liên hoan phim Berlin.

Đó không phải là ngoại lệ. Nhìn ra thế giới, vài phim của bậc thầy Kim Ki Duk còn không tìm được lối ra rạp bán vé tại Hàn Quốc. Phim Human, Space, Time And Human của ông chiếu tại Liên hoan phim Berlin 2018 – nơi đa số khán giả là chuyên nghiệp – vậy mà hơn 1/3 đã bỏ về sớm do “chịu không nổi”.

Chú thích ảnh

Phim “đối ngoại”

Đã có nhiều ý kiến cho rằng phim nghệ thuật nói chung là phim đối ngoại, nghĩa là làm để dự thi các liên hoan trên thế giới. Gần đây, Đảo của dân ngụ cư (đạo diễn: Hồng Ánh) và Cha cõng con (đạo diễn: Lương Đình Dũng) cũng đã chu du và có giải ở quốc tế, nhưng ra rạp tại Việt Nam lại rất đìu hiu.

Các phim có hiệu ứng hoặc suất chiếu tốt hơn như Bi, đừng sợ!, Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng, Lô tô, Dạ cổ hoài lang… thì cũng không mấy khả quan về bán vé. Đình đám quốc tế như Đập cánh giữa không trung, ra rạp tại Việt Nam bán được hơn 17.000 vé sau 2 tuần công chiếu.

Trước đây ở TP.HCM gần như chỉ có Cinebox mặn mà với phim nghệ thuật Việt, họ có gắng duy trì nhiều suất chiếu cho Thời xa vắng, Mùa len trâu, Mê thảo – Thời vang bóng, Áo lụa Hà Đông… Cuối năm 2014, CGV Art House ra đời với 2 phòng chiếu tại TP.HCM và 1 phòng chiếu tại Hà Nội, ưu tiên chiếu phim nghệ thuật và phim độc lập. Các phim như Cánh đồng bất tận, Những đứa con của làng… từng được chiếu ở hệ thống này.

“Phim Việt được hiện diện và thành công tại các liên hoan quốc tế, đặc biệt là các liên hoan phim lớn như Cannes là mơ ước của bất cứ người làm phim nào. Tuy nhiên, đó không phải là tất cả để phát triển một nền điện ảnh, bởi chỉ đơn cử một việc là muốn phát triển thị trường điện ảnh thì đâu phải cứ trông chờ vào các phim dự thi hay đoạt giải?” – tiến sĩ Ngô Phương Lan (Cục trưởng Cục Điện ảnh) chia sẻ với báo giới – “Vì điện ảnh vừa là nghệ thuật tổng hợp, vừa là ngành công nghiệp tổng hợp, nên mơ ước của tôi là một sự phát triển đồng bộ cho điện ảnh Việt Nam.”

Nhất thiết phải có?

“Tôi nghĩ nền điện ảnh nào cũng phân loại ra hai dòng thương mại (commerical) và nghệ thuật/độc lập (arthouse/indie), nên không nhất thiết phải dung hòa cả hai dòng này vào một”- cây bút phê bình điện ảnh Lê Hồng Lâm nói – “Phim thương mại thường do các hãng lớn đầu tư sản xuất và mục tiêu lớn nhất của họ là doanh thu. Phim nghệ thuật/độc lập thì tất nhiên vẫn có mục tiêu doanh thu, nhưng quan trọng hơn là được thể nghiệm nghệ thuật, tìm dấu ấn cá nhân. Một bộ phim thương mại mà làm tốt chắc chắn đáng quý hơn một bộ phim nghệ thuật hay độc lập mà làm dở, làm chưa tới”.

Chú thích ảnh

“Cánh đồng hoang” (1979) đã tạo được sức hút nhờ sự sinh động và độc đáo mà câu chuyện đã mang lại

Thực tế cho thấy, nếu phim thị trường quyết định diện mạo chung của nền điện ảnh, thì phim nghệ thuật khẳng định đẳng cấp của nền điện ảnh đó. Nhìn lại lịch sử điện ảnh, người ta có thể quên rất nhiều phim thị trường, nhưng sẽ buộc phải kể những phim giàu tính nghệ thuật. Ví dụ với Việt Nam là Chung một dòng sông, Cánh đồng hoang, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Vị đắng tình yêu, Mẹ vắng nhà, Ngã ba Đồng Lộc, Nổi gió, Bao giờ cho đến tháng Mười, Chị Tư Hậu, Con chim vành khuyên, Đời cát, Đến hẹn lại lên, Em bé Hà Nội…

Còn nhìn ở phương diện quốc tế, nếu các nền điện ảnh lớn áp đảo thế giới bởi doanh thu phòng vé, thì những nền điện ảnh nhỏ hơn như Đài Loan (Trung Quốc), Iran, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ… thậm chí Campuchia, gây ấn tượng bằng các phim nghệ thuật, các giải thưởng danh giá. Dù Trần Anh Hùng chỉ là đạo diễn gốc Việt, nhưng những phim đậm hương vị Việt như Mùi đu đủ xanh, Xích lô… lại làm tăng thanh thế cho phim Việt trên toàn thế giới.

Vì vậy, phim nghệ thuật vẫn rất cần thiết và vẫn “riêng một góc trời” tại Việt Nam.

3.  Việt Nam đang cần dòng phim ‘dung hoà’?

Phim “dung hòa” là cách gọi nôm na để chỉ những phim vừa bán được vé, vừa có giá trị nghệ thuật như Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh chẳng hạn. Qua các hội thảo, các phát ngôn của lãnh đạo giới điện ảnh gần đây, có vẻ Việt Nam đang cần dòng phim kiểu dung hòa này.

Tuy nhiên, để làm được phim “dung hòa” là một câu chuyện dài, đôi khi cần cả may mắn.

Những ví dụ để noi theo

Nhà nước và khán giả đã có nhiều ví dụ thuyết phục để tin tưởng, vì trước đây đã có những phim như Bao giờ cho đến tháng Mười, Cánh đồng hoang, Mùa ổi, Đời cát, Thung lũng hoang vắng, Trái tim bé bỏng, Rừng đen, Mùa len trâu, Sống trong sợ hãi… dung hòa được các yếu tố kể trên. Nếu Nhà nước tiếp tục làm được những phim như thế này thì sẽ đỡ lo bị khán giả làm ngơ hoặc… “cất kho”.

Nhìn ra bên ngoài, từ hơn 10 năm trước, điện ảnh Iran truyền cảm hứng cho nhiều nhà làm phim độc lập/nghệ thuật và một số khán giả của Việt Nam. Đây là nền điện ảnh rất nhỏ nhưng tinh hoa, đã có nhiều phim kinh phí rất thấp nhưng lại vang dội khắp năm châu. Y như vài phim làm mưa làm gió của Kim Ki Duk, kinh phí chỉ ở mức 200-300 ngàn USD, Việt Nam cũng có thể học theo các mô hình này.

“Nhưng Việt Nam không dễ để học họ. Thứ nhất là nền văn hóa, tôn giáo giữa Việt Nam và Iran khác biệt; thị hiếu khán giả, tôi nghĩ cũng không tương đồng. Có chăng là những nhà làm phim độc lập Việt Nam tìm nguồn cảm hứng ở các nhà làm phim Iran ở tinh thần độc lập, cách họ vượt qua những sự ràng buộc một cách thông minh và phát triển những đề tài rất nhỏ, đời thường nhưng gắn bó mật thiết với đời sống và con người nước họ. Phim Việt Nam hiện nay tôi cảm giác chỉ giải trí và mua vui, gần như không chia sẻ được với đời sống của người Việt Nam hiện tại” – Lê Hồng Lâm nhận định.

Chú thích ảnh

Đạo diễn Charlie Nguyễn thì cho rằng: “Nhà sản xuất sẽ quan tâm đến điều này nhất, vì họ là người quyết định phim sẽ làm theo hướng nào. Nếu mục đích làm phim chỉ để kiếm tiền thì họ sẽ chọn những thể loại mang tính giải trí cao. Còn nếu muốn kể một câu chuyện vì nó làm mình xúc động và có ý nghĩa thì sẽ không chọn làm theo hướng nào cả, mà sẽ chọn kịch bản nào hấp dẫn. Khi phía sản xuất còn băn khoăn giữa nghệ thuật và giải trí, hoặc dung hòa, nghĩa là họ chưa biết mình muốn gì, hoặc trong tay họ chưa có kịch bản nào đủ thuyết phục. Kịch bản hay sẽ quyết định hướng đi của một bộ phim”.

Ai cần phim dung hòa hơn?

Nhìn vào diện mạo và thực trạng hiện nay, có lẽ Nhà nước dễ phù hợp để đầu tư vào các phim dung hòa, vì tự thân các kịch bản phía Nhà nước đã có yếu tố tư tưởng – nghệ thuật, vấn đề còn lại là bổ sung các thành tố thu hút khán giả. Các dạng đầu tư nghệ thuật của Nhà nước thường không quá áp lực về thu hồi vốn, nên dễ “phiêu lưu sáng tạo” hơn các hãng tư nhân, vốn “đồng tiền đi liền khúc ruột”.

Chú thích ảnh
Trong 10 năm gần đây, “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” là một ví dụ thuyết phục về dòng phim dung hòa

Một ví dụ, đó là phim Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, khi đầu tư Nhà nước chỉ toàn tâm làm một phim có giá trị, không mấy áp lực chuyện thu hồi vốn, kết quả lại rất thành công. Cũng trên Tuổi trẻ, Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL Vương Duy Biên thẳng thắn: “Nhưng phim đã chiếu xong từ lâu rồi mà tôi được biết thủ tục sau khi chiếu phim thì đến giờ vẫn chưa xong. Vậy thì còn đơn vị nào dám nhận làm phim đặt hàng nữa?

Thậm chí để duyệt kinh phí đặt hàng một bộ phim, đến Bộ Tài chính cũng duyệt kịch bản, thì chắc chỉ ở Việt Nam mới có chuyện này. Nếu vẫn giữ cách đặt hàng, quan niệm với điện ảnh như vậy thì bao giờ phim Việt mới phát triển được”.

Nhà sản xuất Jimmy Nghiêm Phạm thì cho rằng: “Không cần phát minh hoặc băn khoăn với các phân loại dòng phim, vì các nước có ngành điện ảnh phát triển đã làm lâu rồi và vẫn đang tiếp tục sử dụng. Ngay từ lúc sản xuất, Việt Nam chỉ cần chọn một thể loại nào đó để tập trung làm, thì sẽ có khán giả cho thể loại đó. Với nguồn kinh phí dồi dào, nếu Nhà nước cởi mở trong việc đặt hàng, tôi nghĩ sẽ có nhiều phim hấp dẫn cho các thể loại khác nhau”.

Chú thích ảnhCảnh trong phim “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”

“Bảo hộ điện ảnh dân tộc, nâng cao chất lượng tác phẩm điện ảnh ở tất cả các dòng phim. Tăng cường dòng phim truyền thống để thực hiện nhiệm vụ chính trị, với các mảng đề tài mở rộng bên cạnh nhóm đề tài quy định tại Điều 5 của Luật Điện ảnh, như: Đề tài về gia đình, nhà trường, xây dựng đất nước, hình tượng con người mới, chống tiêu cực…” – trích tham luận “Định hướng xây dựng ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn nhìn từ thực tế phát triển của điện ảnh” do Cục trưởng Cục Điện ảnh Ngô Phương Lan trình bày.

Như vậy là, trước bối cảnh phim thị trường quốc tế được nhập ồ ạt vào Việt Nam (hàng trăm phim/1 năm), trong nước các hãng tư nhân cũng rất thức thời với việc làm phim thị trường, thì một định hướng và chính sách đầu tư phim dung hòa từ Nhà nước là khá cần thiết. Nhà nước có thể tập trung mạnh vào các phim giàu tính nghệ thuật, thể nghiệm, độc lập… với kinh phí chừng 200-300 ngàn USD để kích thích đa dạng sáng tạo. Ở tầm trung, với những phim 400-700 ngàn USD, có thể không cần mỗi năm đặt hàng 5-6 phim, mà nên gom vài năm vào làm một bom tấn, với kinh phí thật lớn, để có thể đủ chất lượng chu du quốc tế. mạnh vào các phim giàu tính nghệ thuật, thể nghiệm, độc lập… với kinh phí chừng 200-300 ngàn USD để kích thích đa dạng sáng tạo. Ở tầm trung, với những phim 400-700 ngàn USD, có thể không cần mỗi năm đặt hàng 5-6 phim, mà nên gom vài năm vào làm một bom tấn, với kinh phí thật lớn, để có thể đủ chất lượng chu du quốc tế.

Nhà nước đang cần những phim “dung hòa”?

Rục rịch từ mấy năm trước, nhưng đến nay 4 phim Nhà nước dự định đầu tư là Xã tắc, Không ai bị lãng quên, Người yêu ơi, Địa đạo… vẫn chưa thể khởi động. Lý do đầu tiên là chưa có kinh phí, vì Bộ Tài chính đang siết chặt các dạng đầu tư này. Lý do quan trọng hơn, Nhà nước đang muốn có những phim vừa đáp ứng được mục đích tuyên truyền, vừa có giá trị nghệ thuật, vừa thu hút được nhiều khán giả. Các dự án vừa nêu có vẻ chưa đủ thuyết phục ở khía cạnh thứ ba?


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s