Quách Gia – Một Mưu Lược Gia không bao giờ tính toán sai

quach gia

Một đêm vào cuối năm 208 sau công nguyên. Tại Nam Quận.

Một bữa tiệc có ngụ ý đặc biệt đang diễn ra.

Lúc bấy giờ, người chủ buổi tiệc này chính là Tào Tháo, một nhân vật khét tiếng đời Tam quốc, chừng như đang quá say. Phải chăng là buổi tiệc sắp tàn ? Hay là tửu lượng của Tào Tháo có giới hạn ? Câu trả lời đều là không phải.

Thì ra, vào mùa thu này, Tào Tháo đích thân xua đại quân tiến xuống phía Nam, chiếm được Kinh Châu, đánh bại Lưu Bị, nhất nhất đều thuận lợi cả. Ông đinh ninh sẽ nuốt chửng được Giang Hán, hoàn thành sự nghiệp thống nhất to tát của mình, để từ đó tên tuổi được ghi vào sử xanh, tiếng thơm lưu lại muôn đời. Không ngờ qua trận đánh Xích Bích, toàn quân đã bị thảm bại, vứt cả khôi giáp. Trước tiên là một trận hỏa công, sau đó là một trận mưa dầm, làm cho đại quân của Tào A Man tan thành mây khói, chiến bại liên tiếp. Giờ đây, ông đang dẫn tàn binh bại tướng vừa về tới Nam Quận. Tào Nhân liền tổ chức một buổi tiệc rượu cho ông. Như vậy, không làm cho ông cám cảnh sinh tình sao được ?

Mượn rượu giải sầu sầu thêm sầu!

Giờ đây, Tào Tháo cảm thấy vô cùng đau đớn, dù có hối hận cũng không còn kịp nữa. Vậy nào còn hứng thú gì để gởi gắm tình cảm vào ly rượu nồng ?

Trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” hồi thứ năm mươi viết như thế này : “Sau khi thoát khỏi tai họa nơi Hoa Dung Đạo, đi tới Cốc Khẩu, nhìn lại thấy quân binh đi theo mình chỉ còn có hai mươi bảy kỵ binh. Lúc bấy giờ trời đã tối và đã gần đến Nam Quận… Thế là ông bèn dẫn mọi người vào Nam Quận để nghỉ ngơi… Tháo điểm binh tướng, thấy người bị thương rất nhiều, bèn ra lệnh cho các tướng nghỉ ngơi. Tào Nhân bày tiệc rượu để cho Tào Tháo giải sầu. Các mưu sĩ đều có mặt”. Chính vì vậy nên mới có cảnh tượng như đã nói trên. Tháo cảm thấy tâm trạng buồn bã, hết sức đau khổ…

“Tào bỗng ngửa mặt lên trời khóc to. Các mưa sĩ hỏi : Sau khi Thừa tướng từ hang cọp thoát ra, chẳng hề có vẻ chi khiếp sợ. Nay đang ngồi trong thành, người đã có ăn, ngựa đã có cỏ, đang lo việc tu chỉnh binh mã để phục thù, vậy cớ gì lại khóc ? Tào Tháo đáp : Ta khóc Phụng Hiếu đây ! Nếu Phụng Hiếu còn, chắc chắn ta không bao giờ bị thất bại như thế này cả. Nói dứt lời, Tào Tháo đấm ngực mình, khóc rống lên, nói tiếp : Buồn thay Phụng Hiếu! Đau thay Phụng Hiếu ! Tiếc thay Phụng Hiếu ! Các mưu sĩ đều im lặng, tự cảm thấy xấu hổ… “

Thế thì, Quách Phụng Hiếu đó là ai ? Ông có chỗ nào hơn người ? Có thể làm cho Tào Tháo, một nhân vật “kiệt xuất siêu phàm” lại phải nhớ mãi không quên. Thậm chí, sau trận thảm bại tại Xích Bích, Tháo vẫn thương tiếc không nguôi ? Đọc qua những trang sau, bạn đọc có lẽ sẽ hiểu được một phần nào…

1. Bỏ Viên Đầu Tào

Quách Gia (170 – 207), tự Phụng Hiếu, người Dương Địch, Dĩnh Xuyên (nay là Ngu Huyện, tỉnh Hà Nam).

Quách Gia sinh vào cuối thời Đông Hán, trong thiên hạ đang xáo trộn không yên, ngoại thích và hoạn quan nối tiếp nhau chuyên quyền, khiến việc triều chính đen tối, hủ bại. Năm công nguyên 184, xảy ra cuộc khởi nghĩa Huỳnh Cân có thanh thế rất to lớn. Từ đó trở đi, dù vương triều đông Hán dốc hết sức ra trấn áp những cuộc khởi nghĩa của nông dân, nhưng kỳ thực thì triều đại này trên danh nghĩa thì còn tồn tại mà thực chất là đã mất rồi. Vì nhanh chóng sau đó, cường hào ở các địa phương cũng như các châu mục, quận thú, đều cử binh nổi dậy, tình trạng quân phiệt cát cứ, đánh lẫn nhau diễn ra liên miên bất tận.

Quách Gia thời tuổi trẻ đã có chí lớn, có kiến thức cao xa, khi tình hình loạn lạc khắp thiên hạ, ông đóng cửa khổ học, và đã học được nhiều kiến thức về chính trị, quân sự và lịch sử, từ đó ông hình thành được những kiến giải chính trị độc đáo của riêng mình. Năm khoảng hai mươi tuổi, chính là lúc xảy ra những cuộc loạn lạc khắp cả trong thiên hạ, ông mai danh ẩn tích chưa bộc lộ tài năng của mình. Nhưng về chỗ riêng tư, ông đã chú ý kết giao với những bậc anh hùng hào kiệt, dù bình nhật ông không hề giao du với những người thế tục ở ngoài đời, bình tĩnh chờ đợi những sự thay đổi của tình thế. Do vậy, người lúc bấy giờ vẫn chưa biết tài năng của ông, mà chỉ có những kẻ sĩ quen thân và cùng chí thủ với ông, mới tỏ ra hết sức tán thưởng tài hoa của ông mà thôi.

Công nguyên năm 189, thủ đô Lạc Dương lại xảy ra một sự cố kinh thiên động địa. Đại tướng Quân Hà Tiến với tư cách là người phụ trách, định giết sạch bọn hoạn quan chuyên quyền trong triều đình, không ngờ cơ mưu bị bại lộ. Bọn hoạn quan ra tay trước, giết chết Hà Tiến khi ông này chưa kịp khởi sự. Kế đó, viên Châu Mục Tính Châu là Đổng Trác, lại mang binh tiến vào kinh thành để chuyên chế việc triều chính, uy hiếp các đại thần. Đổng Trác còn sâu độc giết chết Thái hậu, tự đứng ra tiến hành mọi việc phế lập. Năm sau, các Châu mục và Quận thú của vùng Quan Đông, đua nhau khởi binh và tôn Viên Thiệu lên làm Minh Chủ, xua quân thảo phạt Đổng Trác.

Đại khái vào giai đoạn này, Quách Gia muốn khẳng định tài năng phi thường của mình để thực hiện những hoài bão to tát, quyết định rời khỏi gia đình, dấn thân vào một thế giới đang hỗn loạn, nhiễu nhương, để tìm một vị minh chủ, xây dựng sự nghiệp cho bản thân mình. Do lúc đó Đổng Trác đang làm loạn, nên Quách Gia muốn nhân cơ hội này đóng góp công lao vào sự nghiệp chung.

Giữa lúc binh mã ở Quan Đông nổi dậy, thì thanh thế của Minh chủ Viên Thiệu rất to lớn. Nhà họ Viên bốn đời giữ chức Tam Công, môn sinh và quan lại dưới tay cũng có mặt trong khắp thiên hạ. Bản thân Viên Thiệu cũng có tham vọng muốn tranh giành thiên hạ với mọi người, nên sau khi khởi binh, từng hỏi bộ hạ :

– Phụ giúp họ Viên ư ? Hay là phụ giúp cho họ Đổng ?

Trước sự tấn công mãnh liệt của quân Quan Đông, Đổng Trác quyết định dời đô về Trường An. Mấy triệu nhân khẩu ở vùng Lạc Dương cũng bị cưỡng ép phải dời đi. Dưới sự xua đuổi của bộ binh và kỵ binh, bá tánh đua nhau bỏ chạy. Do giày xéo lên nhau, hoặc do đói khát, bị cướp bóc, khiến cho số nạn nhân này nằm chết đầy đường. Cung điện, miếu mạo, quan thự, suốt một phạm vi hai trăm dặm, không còn thấy nhà cửa chi nữa.

Việc hưng binh của các cường hào ở vùng Quan Đông, tuy lấy khẩu hiệu trừ gian cứu nước. Nhưng sau khi Đổng Trác dời đô về phía Tây, thì binh mã của các cường hào Quan Đông lại không tiến về phía Tây để lo việc cần vương, mà trái lại chém giết lẫn nhau hoặc tàn sát bá tánh, cướp của dân lành. Năm công nguyên 192, Đổng Trác bị Vương Doãn và Lữ Bố hợp mưu. giết chết. Bộ tướng của Đồng Trác là Lý Giác, Quách Phiếm, Phàn Trù, Trương Tế, kéo quân đánh vào Trường An, đại chiến với Tam Phụ, giết Vương Doãn và bá tánh ở Trường An hơn một vạn người. Lử Bố bị bại, bỏ chạy ra khỏi quan ải. Về sau, Quách Phiếm và Lý Giác đều bị bộ hạ của họ giết chết. Thế lực của quân phiệt tại Lương Châu cơ bản đã bị tiêu diệt.

Chỉ trong vòng ít năm sau, đã nhanh chóng hình thành các tập đoàn cát cứ tương đối lớn, trong số đó có Viên Thiệu, Tào Tháo, Công Tôn Toản, Lưu Biểu, Lưu Chương, Viên Thuật, Tôn Sách là những người có thế lực to lớn nhất. Như vậy, muốn thực hiện ý chí hào hùng của mình, Quách Gia chỉ có thể chọn chúa cho mình trong số những người đó.

Trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, đã miêu tả sự xuất hiện của Quách Gia ở hồi thứ mười. Phần này nói đến Tào Tháo đang ra sức thu gom những bậc hiền tài. Tuân Vực tiến cử Trình Dục lên cho Tào Tháo. Trình Dục bèn nói với Tuân Vực :

– Mỗ là người tài năng kém cỏi, không đáng kể cho ngài tiến cử. Một vị đồng hương với ngài họ Quách tên Gia, tự Phụng Hiếu, chính là một hiền sĩ hiện nay, vậy tại sao không giới thiệu ông ấy?

Tuân Vực chợt nhớ ra, nói :

– Suýt nữa tôi đã quên mất!

Sau đó, Tuân Vực trình lên cho Tào Tháo, mời Quách Gia đến Cổn Châu để cùng bàn bạc việc lớn trong thiên hạ. Thật ra, đoạn miêu tả này không hoàn toàn đúng với sự thật lịch sử. Sau khi quân Quan Đông ly tán, Viên Thiệu trước tiên đoạt lấy Kỳ Châu và ra sức thu gom nhân tài ở các địa phương. Quách Gia nghe Viên Thiệu là người dùng lễ để đối đãi với người hiền tài, hơn nữa, thanh thế của Viên Thiệu lúc bấy giờ đang nổi bật, ai ai cũng nghe danh. Do vậy, Quách Gia bèn tìm tới để xin gia nhập đội ngũ của Viên Thiệu, hy vọng dựa vào Viên Thiệu để thi triển tài năng của mình. Thế nhưng, bản thân của Viên Thiệu bề ngoài xem ra như rất phóng khoáng, nhưng kỳ thực thì lòng dạ lại đa nghi, yêu người có hiền tài nhưng lại không thể dùng được. Cho nên Quách Gia không được Viên Thiệu trọng dụng.

Sau một thời gian quan sát, Quách Gia nhận thấy Viên Thiệu tuy bề ngoài có thanh thế rất to, nhưng lại có rất nhiều nhược điểm cũng không kém phần quan trọng. Lúc bấy giờ hai người đồng hương của Quách Gia là Tân Bình, Quách Đồ cũng đang phục vụ dưới trướng của Viên Thiệu. Quách Gia nói với họ :

– Kẻ sĩ có trí mưu, việc quan trọng nhất là phải chọn lựa minh chúa. Chỉ có như vậy, mình mới có thể thi triển được chí hướng, lập được công danh. Hiện nay Viên Công chỉ muốn học cách chiêu hiền đãi sĩ như Châu Công thuở trước, nhưng lại hoàn toàn không biết cái lẽ sử dụng con người. Ông ấy chỉ thu gom nhân tài nhưng lại không biết trọng thị nhân tài. Đứng trước mọi công việc, ông ấy thích nghe những mưu lược nhưng lại không thể quyết đoán. Vậy muốn góp sức với ông ấy để cứu thiên hạ ra khỏi cảnh nguy nan, xây dựng bá nghiệp, thì thực khó khăn biết bao nhiêu.

Thế là Quách Gia đã mạnh dạn rời khỏi doanh trại của Viên Thiệu, để đi tìm một vị minh chủ khác.

Dưới điều kiện lúc bấy giờ, một thư sinh, một văn nhân mưu sĩ như Quách Gia, tuy có tài năng hơn người, nhưng trong tay lại không có một tất đất, một tên lính. Ông chỉ có thể dựa vào những nhân vật có thực lực có địa vị chính trị, thì mới phát huy được tài hoa của mình. Điều đó cũng giống như loại dây leo, không tự đứng thẳng lên được, mà phải bò theo thân cây to mới có thể vượt được lên cao. Có người ví những phần tử trí thức như là một cọng lông, mà lông thì phải bám vào một tấm da. Tấm da thời phong kiến cát cứ, mặc dù có thể phân biệt tốt xấu qua tiêu chuẩn nhân nghĩa đạo đức, nhưng tiêu chuẩn đó lại có sự co giãn khá to, lại thường được chưng diện trang trí bề ngoài.

Cho nên, một phần tử trí thức nên ngã về tập đoàn nào ? Nên theo cá nhân nào ? Nên chọn lựa “tấm da” nào ? Rất nhiều tình huống mà thường thường bản thân mình không thể chủ động được, chỉ phải nghe theo sự sắp xếp của số mạng.

Nhưng cái “thường thường” đó, lại không phải là tuyệt đối.

Ngoài số mệnh ra, còn phải xem sự nỗ lực của cá nhân ra sao. Do vậy, những giới mưu sĩ thông minh, phải giỏi chọn lựa đối tượng để phụ tá. Tục ngữ thường nói “Chim khôn chọn nhành mà đậu”. Đó là điều kiện tiên quyết để quyết định cho sự thành công của mình.

Quách Gia từng nói :

– Phàm người trí giả, phải biết nhận xét và chọn lựa minh chúa. Nếu vị chúa đó là người u mê, nhu nhược, khó tạo dựng, như Hậu Chủ Lưu Thiện, thì cho dù người phụ tá có là bậc siêu nhân, đầy đủ trí tuệ tài năng đi nữa, e rằng cũng phí uổng công sức mà thôi. Thậm chí, còn do chủ nhân của mình bị thất bại, mà mình phải chịu chung số phận thiệt thân. Như Trần Cung từng phụ tá cho Lữ Bố, Điền Phong từng đi theo Viên Thiệu, đều là những người như thế cả. Chỉ có những người mình phụ tá là bậc võ dũng thông minh, thì người mưu sĩ mới có thể phát huy được tài năng của mình, mới có thể lập nên một số sự nghiệp lớn lao. Như sau này Châu Do đã phụ tá cho Tôn Quyền, Gia Cát Lượng đã phụ tá cho Lưu Bị, đều là những giai thoại trong lịch sử cả.

Trái lại, người đồng hương cửa Quách Gia là Quách Đồ, trước sau như một vẫn bám theo cha con Viên Thiệu và Viêm Đàm, về sau binh bại đã bị giết. Những thí dụ tương tự như thế, trong lịch sử nhiều đến đỗi không kể xiết. Điều đó vừa là bi kịch của kẻ sĩ, mà cũng là sự bất hạnh của thời đại.

Cho nên Quách Gia với tư cách là một nhà mưu lược, chỗ khôn ngoan sáng suốt của ông, chính là chỗ xét đoán một cách chính xác Viên Thiệu chẳng qua là người chỉ có hư danh, đối với trọng trách hưng vong của thiên hạ không sao gánh vác nổi, sự thất bại là chuyện khó tránh. Do vậy, tuyệt đối không thể chọn ông ta làm “chúa” cửa mình.

Lúc Quách Gia rời khỏi doanh trướng của Viên Thiệu, thì cũng là lúc Tào Tháo đang mở rộng thế lực, và đang cảm thấy rất thiếu nhân tài. Trước đó, vị mưu sĩ Dĩnh Xuyên là Hí Chí Tài phục vụ dưới trướng của Tào Tháo, được Tào Tháo kính trọng. Chẳng may, Hí Chí Tài chết sớm. Tào Tháo bèn viết một bức thư cho Cao Tham Tuân Vực, nói : “Kể từ ngày Hí Chí Tài qua đời, gần như tôi không có ai để cùng bàn bạc những kế hoạch quan trọng. Vậy ông bấy lâu nay biết ở khu vực Dĩnh Xuyên có nhiều bậc kỳ sĩ, xem có ai thay thế nhiệm vụ của Hí Chí Tài được không ?”

Tuân Vực bèn giới thiệu Quách Gia. Tào Tháo triệu kiến ngay. Hai người đàm luận với nhau về nhiều vấn đề đại sự trong thiên hạ, và tỏ ra rất hợp ý nhau. Trong cuộc đàm luận đó, Tào Tháo phát hiện người thanh niên này có tài năng và kiến thức siêu việt, nên cao hứng nói :

– Người sẽ giúp cho ta hoàn thành sự nghiệp lớn, chính là người này rồi !

Sau cuộc hội kiến, Quách Gia cũng vui mừng, vì gặp được một vị chúa sáng suốt, lại có hùng tài đại lược, nên sau khi bước ra ngoài đã vui mừng nói:

– Tào Công đúng là một vị minh chúa mà tôi muốn gởi thân.

Hai người đều tỏ ra ưa thích nhau, và thường bảo là gặp nhau quá muộn. Tào Tháo bèn cử Quách Gia với tuổi đời hai mươi chín, giữ chức Tư Không Quân Tế Tửu. Tháng mười niên hiệu Kiến An nguyên niên đời Tào Tháo (196) ông được cử làm Tư Không. Và đến tháng giêng năm thứ ba (198) thì lần đầu tiên đặt ra chức “Quân Sư Tế Tửu”, Quách Gia giữ chức Tư Thông Quân Tế Tửu, tức là chức Quân Sư Tế Tửu tại phủ Tư Không, một quan chức giữ nhiệm vụ tham gia về quân sự. Từ đó, Quách Gia là “Quân sư cao tham” dưới trướng của Tào Tháo, đã dốc hết tâm trí của mình để mưu hoạch mọi vấn đê thuộc về quân sự.

Tào Tháo lúc bấy giờ đã lấy được Cổn Châu, lại đón Hán Hiến Đế đến Hứa Đô, dùng cách “bắt ép nhà vua để ra lệnh cho chư hầu”, giành được quyền chủ động về mặt chánh trị. Năm Kiến An nguyên niên, Tào Tháo lại tiếp nhận kiến nghị cua Mao Giới, Táo Kỳ, xây dựng đồn điền ở Hứa Hạ, thu được lúa hằng triệu hộc, rút tỉa được kinh nghiệm quý báu về mặt cung ứng quân lương.

Tất nhiên, nếu so sánh với Viên Thiệu, Tào Tháo chỉ có một địa bàn rất nhỏ hẹp, binh mã rất thiếu thốn, thể lực còn yếu. Thế mà Quách Gia đã mạnh mẽ rời bỏ “kẻ mạnh” là Viên Thiệu, không chút luyến tiếc, để đi tuyển chọn Tào Tháo là người thế lực yếu kém hơn. Xem đó là vị chúa để mình an thân lập mệnh. Điều đó chứng tỏ Quách Gia là người có đôi mắt cao xa, cũng như có sự quyết đoán đầy tài năng.

Tào Tháo kể từ ngày chiếm được Cổn Châu và Dự Châu, xây dựng căn cứ địa tại hai nơi này, đã tiến hành hằng loạt chiến dịch, lần lượt đánh bại một số quần hùng, xóa đi nỗi lo sát nách, để tương lai có thể phóng tay đánh nhau một trận quyết định với Viên Thiệu.

Trước đây, hồi năm công nguyên 193, phụ thân của Tào Tháo từ Hoa Huyện trở về quê, đã bị quân binh của thủ hạ Đào Khiêm, vị Châu mục Từ Châu sát hại. Tào Tháo nghe tin hết sức giận dữ, cử binh đi báo thù và đã hạ liên tiếp mười thành. Đào Khiêm bại trận phải lui đến Đàm Thành. Mùa hè năm sau, Tào Tháo lại cử binh đánh Từ Châu lần thứ hai, và chôn sống mấy vạn người tại Tứ Thủy. Ít lâu sau, Đào Khiêm vì quá lo buồn nên đã bệnh chết. Lúc tiến hành hai cuộc hành quân này, Quách Gia chưa đến gia nhập vào đội ngũ của Tào Tháo. Nhưng trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” đã miêu tả Quách Gia là người đã sách hoạch hai cuộc hành quân nói trên, đó là lời nói của những nhà viết tiểu thuyết, không cần phải bàn đến.

Tiếp theo là trận tấn công tiêu diệt Lữ Bố. Lữ Bố tự là Phụng Tiên, người Cửu Nguyên (nay là địa phương nằm về phía tây bắc thành phố Bao Đầu tại khu tự trị Nội Mông Cổ), thuộc quận Ngũ Nguyên. Lữ Bố nguyên là bộ tướng của Đinh Nguyên, Thứ sử Tỉnh Châu, nhưng hắn đã bán chủ cầu vinh, bằng cách giết Đinh Nguyên để đầu hàng Đổng Trác. Sau đó Lữ Bố lại giết Đổng Trác chạy theo Vương Doãn. Đây là một con người “cứng rắn nhưng vô lễ, chỉ có cái dũng của kẻ thất phu” là một nhân vật điển hình thường phản phúc về mặt chính trị. Lữ Bố bị Lý Giác, Quách Phiếm đánh đuổi bỏ chạy ra khỏi Trường An, chẳng khác chi một con chó chết chủ, đi lang thang khắp mọi nơi. ông ta trước tiên tìm đến nương nhờ Viên Thuật, sau đó lại chạy theo Trương Dương, rồi lại chạy theo Viên Thiệu.

Khi Tào Tháo thảo phạt Từ Châu, thì không ngờ tại vùng hậu phương Cổn Châu xảy ra phản loạn. Trương Mạc, nghe theo lời khuyên của Trần Cung, nghênh đón Lữ Bố, có ý đồ nhân cơ hội Tào Thao vắng mặt, tấn công chiếm lấy Cổn Châu. Cũng may có Tuân Vực, Trình Dục đã cố thủ Quyên Thành, Phạm Huyện, và Đông An, khiến Tào Tháo vẫn còn căn cứ để tiến thoái. Tào Tháo nghe tin đồn dẫn quân trở về cứu. Sau khi trận đánh tại Định Đào và Cự Dã, đại bại Lử Bố, mới cứu vãn được tình thế hết sức nguy cấp.

Sau khi Lữ Bố bị đánh bại, đã bỏ chạy tới Từ châu để nương nhờ Lưu Bị. Sau đó, Lữ Bố lại bất ngờ đánh chiếm Hạ Phi (nay là Phi Huyện, tỉnh Giang Tô) của Lưu Bị, tự xưng là Từ Châu Mục. Sau khi Lưu Bị mất đất đứng chân, bèn dẫn bộ hạ đến đầu Tào Tháo. Trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” hồi thứ 6 có viết : “Tháo đã dùng cái lễ đối với thượng khách để chiêu đãi, Huyền Đức bèn đem chuyện Lữ Bố nói cho Tào Tháo nghe. Tào Tháo bảo : “Bố là con người bất nghĩa, vậy ta và hiền đệ phải ra sức giết nó”. Huyền Đức lên tiếng cảm tạ. Tháo thết tiệc khoản đãi, cho tới tối mới đưa ra cửa. Tuân Vực vào yết kiến Tào Tháo, nói : “Lưu Bị là một anh hùng, vậy cần phải sớm giết đi, nếu không thì sẽ có hậu hoạn”. Tháo không trả lời.

Sau khi Tuân Vực bước ra, thì Quách Gia bước vào, Tháo hỏi : “Tuân Vực khuyên ta nên giết Huyền Đức, vậy phải làm sao ?”. Gia đáp : “Không được. Chúa công hưng binh là vì nghĩa, nhằm trừ bạo cho bá tánh, vậy phải dựa vào sự tín nghĩa mà chiêu mộ những bậc hào kiệt, như vậy mà vẫn còn sợ họ không chịu đến. Nay Huyền Đức là người có tiếng anh hùng, vì khốn cùng nên tới đây nương nhờ, nếu giết đi thì sẽ có hại đến việc chiêu mộ người hiền tài. Tất nhiên những kẻ sĩ có trí mưu trong thiên hạ hiện nay, nghe được sẽ hoài nghi, không ai dám tìm tới nữa. Như vậy, chúa công sẽ lấy ai mà bình định được thiên hạ ? Lấy việc giết một người bảo là trừ hậu hoạn, để gây ra sự nghi ngờ cho tất cả mọi người, thì sự an nguy đối với ta là điều không thể không nhận xét cho kỹ”. Tào Tháo cả mừng, nói : “Lời nói của khanh thật đúng với ý ta”. Ngày hôm sau, Tào Tháo bèn viết biểu tiến cử Lưu Bị làm Châu Mục Dự Châu. Trình Dục can rằng : “Lưu Bị không bao giờ chịu ở dưới quyền người khác, vậy chi bằng nên sớm giết đi”. Tháo đáp : “Hiện nay là giai đoạn phải dùng tới những vị anh hùng, vậy không thể giết một người mà làm mất nhân tâm trong khắp thiên hạ. Đó chính là ý kiến giống nhau giữa ta với Qưách Phụng Hiếu, nên không nghe theo lời của Dục khuyên”.

Đối với chuyện này, trong “Quách Gia Truyện” của “Tam Quốc Chí”, phần chú giải của Bùi Tùng dẫn từ “Ngụy Thư”, thì đại để không giống nhau. Đối với một việc nhỏ như thế, đã phản ánh tầm nhìn chiến lược của người có mưu lược và có quyền hành, thì Tào Tháo và Quách Gia đều giống nhau. Ngay đến Tuân Vực, Trình Dục và những nhân vật được gọi là “túi khôn” nổi tiếng đương thời cũng không bì kịp.

Mặc dù tạm thời lung lực được Lưu Bị, nhưng hoàn cảnh của Tào Tháo vẫn không phải là một hoàn cảnh lý tưởng. Lúc bấy giờ phía Bắc có Viên Thiệu, Công Tôn Toản, phía Nam có Viên Thuật, Lưu Biểu, Tôn Sách, Lưu Chương, Trương Lỗ, phía Tây có Mã Đằng, Hàn Toại, Trương Dương, phía Đông có Lữ Bố. Riêng Cổn Châu và Dự Châu là hai vùng đất nằm tại khu vực tứ chiến. Đúng ra Tào Tháo đang ở vào hoàn cảnh bốn bề đều có thế lực kình chống nhau. Cho nên Tào Tháo và các mưu sĩ của ông, ngày đêm phân tích tình hình, nghiên cứu xem phải làm thế nào để đánh bại quần hùng ở Trung Nguyên. Họ nhận thức mình là người đang ở vào thế chiến nội tuyến, lại đứng trước tình hình địch mạnh ta yếu. Viên Thiệu tất nhiên là kẻ thù chủ yếu nhất, còn Lữ Bố là kẻ thù hung ác nhất. Qua đó, cuối cùng họ đã xác định được phương châm chiến lược là “yếu trước mạnh sau, lần lượt đánh bại từng kẻ thù một”.

Mùa Thu năm Kiến An thứ ba (công nguyên 198) Tào Tháo quyết định đánh Lữ Bố ở phía Đông. Đối với việc này, trong quân ngũ của Tào Tháo từng có nhiều ý kiến khác nhau. Một số tướng lãnh cho rằng Lưu Biểu, Trương Tú ở phía sau lưng, nếu viễn chinh Lữ Bố e rằng sẽ gặp nguy hiểm. Trước đó, Tào Tháo thường hỏi ý kiến của Tuân Vực và Quách Gia :

– Nay ta muốn thảo phạt kẻ bất nghĩa, nhưng sức mạnh của ta không đủ đối địch, vậy phải làm sao ?

Tuân Vực chủ trương đánh Lữ Bố. Ông cho rằng :

– Không đánh Lữ Bố trước thì Hà Bắc (chỉ Viên Thiệu), cũng sẽ khó chinh phục.

Quách Gia cũng nói :

– Viên Thiệu hiện đang vây đánh Công Tôn Toản ở phía Bắc, vậy có thể nhân cơ hội này cử binh sang phía Đông đánh Lữ Bố. Nếu không tiêu diệt Lữ Bố trước, một khi Viên Thiệu kéo quân tới xâm phạm, Lữ Bố sẽ cử binh chi viện cho ông ta, thì hậu hoạn sẽ vô cùng to lớn.

Một mưu sĩ khác là Tuân Du cũng cho rằng :

– Lữ Bố là tướng vô cùng kiêu dũng, lại ỷ mình được Viên Thuật giúp đỡ, nếu để mặc cho hắn tung hoành giữa vùng Hoài Thủy và Tứ Thủy, thì một số hào kiệt tất nhiên sẽ hưởng ứng. Bây giờ nên thừa lúc Lữ Bố mới tạo phản, nội bộ còn chưa đồng tâm nhất trí với nhau, ta tiến đánh tức khắc, nhất định sẽ được thành công.

Được sự trù hoạch của các mưu sĩ, mùa Thu năm đó, Tào Tháo đích thân chỉ huy đại quân tiến vào phía Đông để thảo phạt Lữ Bố. Tháng mười đánh chiếm được Bành Thành, Lữ Bố lui về giữ Hạ Phi. Quân Tào lại bao vây Hạ Phi và Tào Tháo lại viết thư khuyên Lữ Bố đầu hàng. Lữ Bố vốn có ý đầu hàng, nhưng mưu sĩ Trần Cung khuyên nên tử thủ Hạ Phi, rồi lại phái người phá vòng vây đi cầu cứu với Viên Thiệu.

Do tướng sĩ của Lữ Bố liều chết giữ thành, nên quân Tào dù đã tấn công mãnh liệt suốt hai tháng, mà thành Hạ Phi bé nhỏ vẫn đứng trơ trơ. Tào Tháo thấy đánh lâu mà không hạ được thành, trong lòng rất bực bội. Thêm vào đó, quân đội đã tác chiến liên miên không được nghỉ ngơi, tướng sĩ đều mệt mỏi, lương thảo tiếp tế cũng gặp khó khăn, nên chuẩn bị rút lui trở về Hứa Đô, để chỉnh đốn đội ngũ, rồi sẽ tìm dịp tấn công sau.

Một đạo binh mệt mỏi, mà lại đưa đi viễn chinh, là điều tối kỵ của binh gia. Đại quân hạ trại đóng dưới chân một ngôi thành kiên cố, nếu kéo dài thời gian mà không hạ được thành, thì lại càng bất lợi. Giờ đây, binh mã của Tào Tháo và Lữ Bố đều vô cùng mệt mỏi. Vậy, nếu ai có thể tiếp tục kiên trì cuộc chiến đấu, thì người đó sẽ có hy vọng thắng lợi. Trong giờ phút quan trọng này, các mưu sĩ nghe tin Tào Tháo chuẩn bị rút quân đều hết sức hốt hoảng. Tuân Du lập tức đến khuyên ngăn Tào Tháo đừng rút quân. Quách Gia cũng nói :

– Trước kia, cả đời Hạng Võ đã đánh hơn bảy mươi trận lớn nhỏ, chưa từng bị bại, thế mà chỉ một trận đánh tại Cai Hạ, ông ta đã sa vào thế thân chết nước mất. Nguyên nhân chính vì ông ta quá ỷ mình kiêu dũng thiện chiến, nhưng lại thiếu mưu lược. Giờ đây Lữ Bố cũng là người hửu dũng vô mưu, lại liên tiếp bị bại trận, nhuệ khí đã mất, dũng khí đã tiêu tan. Cho nên oai lực của Lữ Bố tuyệt đối không làm sao bì kịp Hạng Võ. Trong khi đó hoàn cảnh bại trận khốn khó của ông ta hiện nay càng trầm trọng hơn Hạng Võ xưa kia nhiều hơn. Vậy, nếu chúng ta thừa thắng tấn công mạnh lên, thì thành Hạ Phi nhất định sẽ chiếm được, Lữ Bố nhất định sẽ bị bắt sống.

Tào Tháo nghe qua lời khuyên của hai người rất có lý, nên tiếp tục chỉ huy quân đội của mình tấn công vào thành Hạ Phi.

Việc khuyên ngăn Tào Tháo đừng rút lui là chuyện không khó. Mà khó ở chỗ tướng sĩ và bá tánh trong thành Hạ Phi, do ai ai cũng sợ thành bị hạ thì tất cả sẽ bị chém giết, nên họ đá quyết tâm cố thủ. Như vậy, phải làm thế nào để hạ được thành, mới là vấn đề chủ yếu. Tất nhiên chỉ một mực tấn công, rõ ràng không phải là thượng sách. Trong thời điểm này, đúng là thời điểm có đất dụng võ của các mưu sĩ. Họ chủ trương dùng nước của hai con sông Tứ Thủy và Nghi Thủy để nhận chìm thành Hạ Phi. Dùng nước để thay thế binh sĩ.

Tào Tháo đang cảm thấy bí lối, nên khi được diệu kế này tất nhiên là vui mừng ngoài sức tưởng tượng. ông ta lập tức xuống lệnh cho binh sĩ đào kinh dẫn nước hai con sông nói trên, chảy cuồn cuộn vào chân thành Hạ Phi. Thế là ngôi thành vững chắc như sắt thép kia, lại không chịu đựng nổi sự công phá của dòng nước. Chỉ trong chốc lát, nó đã ngập sâu xuống nước mấy xích. Quân dân trong thành thấy không còn hy vọng, bèn tự tìm đường sống cho mình, không còn nghĩ tới chuyện giữ thành nữa. Thế là mạnh ai nấy bỏ chạy.

Những viên đại tướng của Lữ Bố như Hầu Thành, Tống Hiến, Ngụy Tục liền làm binh biến, để tìm sống trong cái chết, bắt trói Trần Cung và một số nhân vật quan trọng khác, kéo ra đầu hàng Tào Tháo. Riêng Lữ Bố thì dẫn tàn quân lui về giữ Bạch Môn Lâu tại thành Hạ Phi, nhưng rốt cục cũng phải bó tay chịu trói. Tào Tháo liền triệu tập văn võ bá quan tại Bạch Môn Lâu – để xử trí Lữ Bố. Lúc bấy giờ Lữ Bố còn càu nhàu là đã trói mình quá chặt. Tào Tháo cười nói :

– Trói cọp mà không trói chặt sao được ?

Lữ Bố ngụ ý muốn đầu hàng, và xin tha mạng cho mình. Tào Tháo thấy Lữ Bố là người phản phúc vô thường, hết sức căm ghét, nên xuống lệnh thắt cổ giết chết ông ta. Tào Tháo lại gạt lệ giết người ân nhân là Trần Cung, rồi cho mai táng đúng theo lễ nghi. Từ đó, Tào Tháo đã khống chế được một vùng đất rộng lớn tại phía Nam sông Hoàng Hà.

Sau cùng, Tào Tháo lại tiến hành một cuộc càn quét các thế lực cát cứ trong vùng. Năm Kiến An nguyên niên (công nguyên 196), Trương Tú Nguyên là bộ hạ của Đổng Trác, đã chạy theo người chú là Trương Tế từ Quan Trung kéo về vùng Nam Dương. Sau khi Trương Tế chết, Trương Tú dẫn binh đội của mình đến nương nhờ Lưu Biểu. Nam Dương ở gần Hứa Xương, đối với Tào Tháo là một cái gai đâm vào sau lưng mình. Do vậy, vào mùa Xuân năm Kiến An thứ hai, Tào Tháo trước tiên nhắm Trương Tú để tấn công. Trương Tú chiến bại, mang cả quân đội đầu hàng. Nhưng ít lâu sau hắn lại hối hận, nên thừa dịp đêm khuya đánh lén vào doanh trại của Tào Tháo, gây thương vong nặng nề. Con trai cả của Tào Tháo là Tào Ngang, và cháu là Tào An đều bị chết trận. Do vậy Tào Tháo đành phải lui quân.

Năm sau, một lần nữa Tào Tháo lại xua quân thảo phạt Trương Tú. Trương Tú cầu cứu với Lưu Biểu. Tháng năm, quân Tào Tháo thụ địch cả phía trước lẫn phía sau, nên buộc phải rút lui. Đến năm công nguyên 199, qua lời khuyên của mưu sĩ Giả Hử. Trương Tú dẫn binh mã của mình đến Hứa Xương đầu hàng Tào Tháo, được Tào Tháo phong làm Dương Võ Tướng quân.

Trước đó, tức vào năm Kiến An thứ hai, Viên Thuật tự xưng đế tại Thọ Xuân. Đấy chính là sự biểu hiện cụ thể đối với việc chống lại triều đình nhà Hán. Tào Tháo liền dừng danh nghĩa “Tuân lệnh Thiên tử đi thảo phạt kẻ phản thần” cử binh tiến đánh Viên Thuật. Đến tháng chín, trước áp lực của Tào Tháo, Viên Thuật phải bỏ chạy về phía Nam sông Hoài. Chỉ ít lâu sau thì Viên Thuật bệnh chết.

Trong khi quân Tào tiến đánh Lữ Bố, Trương Dương ở Hà Nội đã kéo quân ra Dã Vương (nay là Tẩm Dương), lên tiếng ủng hộ Lữ Bố. Nhưng không bao lâu sau, Trương Dương bị bộ tướng của mình là Dương Sửu giết chết. Tiếp đó, Huy Cố lại giết chết Dương Sửu, kéo quân đi nương tựa Viên Thiệu. Tháng tư năm Kiến An thứ tư (công nguyên 199), Tào Tháo phái Đại tướng Tào Nhân đánh chiếm Xạ Khuyển (nay là địa phương nằm về hướng Đông Bắc Tẩm Dương, tĩnh Hà Nam), giết chết Huy Cố, khống chế được quận Hà Nội.

Trong khoảng thời gian hơn hai năm, Tào Tháo đã lần lượt đánh bại Viên Thuật, Trương Tú, tiêu diệt được Lữ Bố, Huy Cố, cải thiện tình thế chiến lược, và từng bước một chuyển từ thế yếu sang thế mạnh, sáng tạo điều kiện thuận lợi đề sau này đánh nhau với Viên Thiệu. Trong quá trình đó. Quách Gia đã nhiều lần đi theo quân đội xuất chinh, và đã hiến nhiều kế hay, phát huy tác dụng đầy đủ của một viên tham mưu cao cấp phụ tá cho Tào Tháo.

Đối với Tào Tháo mà nói, thì Viên Thiệu ở phía Bắc là kẻ thù lớn nhất. Trước khi trận đánh tại Quan Độ xảy ra, Tào Tháo luôn nghĩ đến việc xua quân chinh phạt Viên Thiệu, nhưng trong lòng vẫn lo lắng binh lực của mình không đủ, nên về mặt tâm lý cảm thấy rất mâu thuẫn. Do vậy, Tào Tháo muốn nghe ý kiến của những mưu sĩ dưới tay mình.

Trước tiên, Tào Tháo từng nói với Tuân Vực :

– Viên Thiệu là kẻ bất nghĩa, ta muốn cử binh chinh phạt hắn, nhưng thực lực của ta e không thể đối địch nổi, vậy phải làm sao ?

Tuân Vực dùng đôi mắt của nhà mưu lược, từ các mặt “độ thắng”, “mưu thắng”, “võ thắng”, “đức thắng” để phân tích cho thấy Tào Tháo tất nhiên sẽ thắng Viên Thiệu. Qua những lời phân tích đó, làm cho nỗi băn khoăn trong lòng Tào Tháo dược giải tỏa, và niềm tin sẽ thắng Viên Thiệu được củng cố hơn.

Về sau, Tào Tháo lại hỏi ý kiến của Quách Gia như đã từng hỏi Tuân Vực. Quách Gia phân tích càng sâu sắc hơn, nói:

– Giữa Lưu Bang và Hạng Võ, quân lực chênh lệch nhau rất nhiều, đó là việc ngài đã biết. Thế nhưng Lưu Bang là người có trí mưu hơn Hạng Võ, cho nên cuối cùng Hạng Võ đã bị Lưu Bang đánh bại.

Quách Gia khuyên Tào Tháo nên noi gương cách dùng trí của Lưu Bang và nên học kinh nghiệm trong lịch sử về cách đùng sức yếu để đánh thắng kẻ mạnh, nên vững tin cách dùng trí để thủ thắng.

Tiếp đó, Quách Gia lại phân tích tình trạng thực lực giữa Tào Tháo và Viên Thiệu, và nhận định : “Thiệu có mười điều bại, còn ngài có mười điều thắng. Tuy binh mạnh, nhưng hắn không làm chi được cả”. Cũng tức là nói Viên Thiệu có mười điểm không bằng Tào Tháo, cho nên dù Viên Thiệu có binh lực mạnh hơn, vẫn sẽ bị thất bại. Đối với Viên Thiệu mà nói, tức là hắn có mười điều bại, còn đối với Tào Tháo mà nói, thì ông ta lại có mười điều thắng. Mười điều bại, mười điều thắng đó là:

Thứ nhất, là “đạo thắng”. “Thiệu quá phiền tiết về mặt lễ nghi, còn ngài thì theo sự tự nhiên vốn có”. Đấy là nói những biện pháp ổn định xã hội của Tào Tháo rất hợp với quy luật tự nhiên. Còn Viên Thiệu thì làm nhiễu loạn thiên hạ, khiến dân sống không yên. Đó là điều đã đắc thắng trước tiên về mặt “đạo”. Đó là nhìn chung về mặt tổng thể, là sự cân nhắc đánh giá về mặt hay dở giữa Tào Tháo và Viên Thiệu. Quách Gia trước tiên đặt thiên tính của con người lên hàng đầu xếp nó vào mục thứ nhất trong mười yếu tố để thủ thắng. Qua đó có thể nhận ra những kẻ sĩ thời bấy giờ, rất trọng thị vấn đề thiên tính. Ở Trung Quốc, tư tưởng “thiên đạo tự nhiên”, bắt nguồn từ Đạo gia. Đến thời Đông Hán, nó trở thành mệnh đề triết học của Vương Sung, nói rõ sự vận động của tự nhiên. Sự phát sinh, phát triển của nó, là hoàn toàn tự nhiên, không có một thứ “lực” nào ở bên ngoài chi phối. Thiên tính của con người, là thiên tính tự nhiên, phải phù hợp theo tự nhiên. Bản thân con người có cái lực cửa tự nhiên, có cái lực của sinh mệnh, là vật tồn tại tự nhiên có năng động và hoàn toàn tự do. Mỗi người ai cũng có bản tính thiên phú năng lực, và tình dục, v.v… Bản chất của con người là tự nhiên, là tự do. Do vậy, không nên dùng “lễ nghi phiền tiết” để ràng buộc. Một khi tính cách của con người bị ràng buộc, thì sự phát triển của thiên tính tất nhiên sẽ gặp trở ngại, khiến sức mạnh bản chất của con người không phát huy được bình thường. Những phần tử trí thức trong thời đại phong kiến, hầu hết đều không thoát khỏi sự cấm cố đó. Cuối đời Đông Hán, quần hùng nổi dậy, khiến cục diện Nho gia được độc tôn trước kia bị chao đảo. Cho nên có một số người trí thức trọng thị hơn vấn đề nên theo thiên tính tự nhiên của con người, theo ý chí tự do của con người, nên đối với những sự ràng buộc có thái độ phản đối. Họ mong dựa vào đó để phát huy tác dụng năng động lên đến mức không thể tưởng tượng được. Tào Tháo và Quách Gia là những phần tử trí thức thuộc loại này. Bảo là “thuận theo tự nhiên” chính là dựa theo quy luật tự nhiên mà làm việc, để phát huy một cách đầy đủ bẩm tính nội tại của con người, không để cho con người bị lễ giáo ràng buộc.

Thứ hai là “nghĩa thắng” : Thiệu đi ngược dòng, còn ngài thuận theo xu thế để chỉ huy thiên hạ”. Viên Thiệu hưng binh không có danh nghĩa, còn Tào Tháo rước Hán Hiến Đế về với mình, để lấy danh nghĩa Hoàng đế mà ra lệnh cho thiên hạ. Cho nên Tào Tháo là người có danh chánh ngôn thuận, đấy là “nghỉa” thắng hơn Viên Thiệu. Những năm cuối đời Đông Hán, quyền lực của Hoàng để bị suy sụp, triều cương bại hoại. Hán Hiến Đế chẳng qua là một chiêu bài trong tay của những người quân phiệt mà thôi. Tuy nhiên, nói cho cùng, Hoàng đế dầu sao cũng là người tượng trưng cho chính quyền tối cao phong kiến, trên danh nghĩa vẫn là vị tối cao trong thiên hạ. Kể từ đời Xuân Thu Chiến Quốc trở đi, những tay quyền thần, những tay gian hùng trong chính trị, có ý muốn xưng bá trong thiên hạ, đều biết cách lấy danh nghĩa của Thiên tử, xem đó là điều có ý nghĩa quan trọng trong việc tranh quyền đoạt lợi của họ. Năm Kiến An nguyên niên (công nguyên 196), Tào Tháo đón Hán Hiến Đế và xây dựng đế đô tại Hứa Xương. Từ đó, Tào Tháo thường lấy danh nghĩa của Thiên tử để hiệu triệu và ra lệnh một cách đường hoàng, một cách danh chánh ngôn thuận, để chinh phạt những người khác chính kiến với mình, về mặt chính trị, Tào Tháo nhờ đó đã nắm được quyền chủ động. Về sau, Gia Cát Lượng lúc còn ở tại Long Trung, khi luận bàn về tình thế trong thiên hạ lúc bấy giờ cũng nói :

– Tào Tháo bắt ép Thiên tử để ra lệnh cho chư hầu, nên không thể tranh phong với ông ta.

Qua đó cho thấy, tấm chiêu bài Hán Hiến Đế, về mặt chính trị vẫn còn có một tác dụng nhất định.

Thứ ba là “trị thắng” : Cuối đời nhà Hán về mặt cai trị không còn nghiêm chỉnh là do quá buông lỏng. Thiệu lấy sự buông lỏng để trị sự buông lỏng, nên không thể củng cố được việc cai trị. Ngài trái lại, đã dùng sự cứng rắn, nghiêm chỉnh khiến cho từ trên tới dưới biết tự kiềm chế mình. Đời Đông Hán, kể từ Hoàn, Linh trở đi, việc cai trị có nhiều khuyết điểm, làm cho chính lệnh quá lỏng lẻo, việc cai trị quá buông lỏng để cho các cường hào và các đại tộc tha hồ cướp giật đất đai. Bản thân Viên Thiệu xuất thân từ gia đình cao môn sĩ tộc. Ông cố của Viên Thiệu là Viên An, làm quan tới chức Tư Đồ, “Từ An trở xuống, bốn đời giữ chức Tam Công. Do đó mà quyền thế nổi bật trong thiên hạ”. Viên Thiệu sống trong khu vực cai quản của mình, chẳng những không uốn nắn những tệ đoan xuất hiện trong cuối đời nhà Hán, mà trái lại càng buông lỏng đối với những cường hào và những đại tộc, để mặc cho họ hiếp đáp bá tánh. Cường hào muốn làm chi thì làm, thu gom nhiều đất đai, trong khi người dân thì vừa nghèo vừa không có thế lực, nên lúc nào cũng phải nộp địa tô thậm chí còn phải bán vợ đợ con mà chưa đủ tiền để nộp tô. Trong khi đó, những người trong các tộc lớn như Viên Thiệu, lại chiêu nạp những người lưu vong, những người phạm tội. Do vậy, sự mâu thuẫn về giai cấp trong thống trị của họ hết sức gay gắt. Đúng như Tào Tháo về sau đã nói : “Muốn cho bá tánh gần gụi mình, nhưng giáp binh quá mạnh, thì làm sao họ gần gụi được?”

Trái lại, Tào Tháo đã mạnh dạn uốn nắn những tệ đoan nói trên, chú ý khống chế thế lực của các cường hào và “trừng trị nặng tệ cường hào cướp đất”. Do vậy, Viên Thiệu lấy buông lỏng để trị buông lỏng, trong khi Tào Tháo thì lại mạnh dạn uốn nắn những tệ đoan đó. Sự sáng suốt giữa hai người chỉ qua đó cũng đủ thấy rõ. Điều đó, chính là điều mà Khúc Gia bảo là “trị thắng”.

Thứ tư là “độ thắng”: Thiệu bề ngoài có vẻ phóng khoáng, nhưng nội tâm lại đa nghi, dùng người bao giờ cũng nghi ngờ, cho nên chỉ biết dùng người thân cũng như bà con em cháu. Trái lại, ngài bề ngoài giản dị dễ gần còn nội tâm thì luôn sáng suốt, dùng người không nghi, cứ có tài là dùng, không cần biết là thân hay sơ. Viên Thiệu trong lịch sử, đúng là một thủ lãnh của một tập đoàn quân sự không biết dùng người. Ông ta cũng là người không phân biệt được ai hiền ai ngu, là điển hình của một nhân vật chỉ biết làm theo ý riêng của mình. Bề ngoài ông ta có vẻ rất phóng khoáng, rất đại lượng, nhưng trong thực tế thì lòng dạ của ông ta lại rất hẹp hòi, khí độ rất bé nhỏ. Khi dùng người thì đa nghi, cho nên hầu hết chỉ dùng những bà con thân thích, những em út của mình. Tào Tháo trái lại sáng suốt và hiểu biết hơn, ai là người có tài thì ông trọng dụng. Về mặt khí độ ông hơn hằn Viên Thiệu.

Thứ năm là “mưu thắng”: Viên Thiệu là người tiếp nhận nhiều mưu kế, nhưng lại không biết quyết đoán, đó là chỗ dở, Tào Tháo trái lại khi nhận được những kế sách tốt, thì thi hành ngay, và luôn ứng biến một cách linh động. Viên Thiệu cứ gặp việc gì thì luôn có thái độ do dự, thường để mất cơ hội tốt. Còn Tào Tháo xử lý những việc lớn quả đoán, lại giỏi tùy cơ ứng biến. Cho nên về mặt mưu lược và quyết sách, Tào Tháo hơn hẳn Viên Thiệu.

Thứ sáu là “đức thắng”: Thiệu cho gia tộc mình nhiều đời qua là một gia tộc có học thức, nên thường đàm luận những vấn đề cao siêu để được tiếng khen. Những kẻ sĩ có tính thích nói suông, thích khoe khoang, thường chạy theo Viên Thiệu. Tào Tháo trái lại, lấy lòng thành thực để cư xử với người, không phô trương một cách rỗng tuếch, và luôn lấy sự cần kiệm để hướng dẫn người dưới quyền. Nhưng đối với người có công, thì ông không bao giờ tỏ ra bủn xỉn. Những kẻ sĩ có lòng trung thành, chính đáng, có tầm nhìn xa, có thực học, thường bằng lòng đến để được Tào Tháo dùng. Viên Thiệu dựa vào sự cao quý của gia tộc, thường thích được tiếng khen, cho nên những người theo về với ông ta, đều thích những danh vọng hão huyền, không có những bản lãnh thực tế. Tào Tháo trái lại, lấy nhân nghĩa và sự thành tâm để đối đãi với người, còn bản thân thì nghiêm túc cần kiệm, giản dị. Khi tưởng thưởng cho người có công, không bao giờ tỏ ra keo cú. Cho nên những người có tài năng và có tinh thần thiết thực trong thiên hạ, đều bằng lòng đến phụ tá cho Tào Tháo. Đó là sự hơn hẳn Viên Thiệu về mặt Đức.

Thứ bảy là “nhân thắng” : Thiệu nhìn thấy người cơ hàn, thì lộ sắc thương xót, nhưng nếu không thấy thì không bao giờ nghĩ tới. Đó chính là lòng nhân của đàn bà. Tào Tháo trái lại, đối với việc nhỏ trước mắt, nhiều khi bỏ qua, còn đối với việc lớn, thì luôn luôn nghĩ tới, và bao giờ cũng gia ân hơn hẳn người ta mong đợi. Tuy không nhìn thấy, nhưng về mặt suy nghĩ lúc nào cũng chu đáo, không bao giờ có sự thiếu sót cả”….

~ Thứ tám là “minh thắng” : Dưới trướng của Viên Thiệu, thì đại thần tranh quyền, lời gièm pha lúc nào cũng có. Trái lại ngài biết dùng Đạo để nắm người dưới, luôn giúp đỡ cho người bất hạnh. Viên Thiệu xuất thân từ gia tộc quan liêu giàu có, quen nghe những lời dua nịnh, thường chỉ yêu những người dua nịnh sống bên cạnh mình. Chúng nói gì thì nghe theo nấy, lại ghét người nói thẳng, không muốn nghe ý kiến của họ. Bản thân Viên Thiệu là người nông nổi, độ lượng không to, tất nhiên là người dẫn đến tình trạng những người trí giả dưới tay mình ngấm ngầm đấu tranh với nhau, còn đại thần thì tranh quyền đoạt lợi, mưu trí trở thành liều thuốc độc làm tan rã bản thân. Viên Thiệu bao giờ cũng nghe theo những lời gièm pha, luôn bị những lời gièm pha mê hoặc. Kết cục, người ngay thẳng và những trí giả thì bị hãm hại, còn bọn ti tiện tiểu nhân thì hoành hành không biết sợ ai. Trái lại, Tào Tháo dùng người có phương pháp, không bao giờ chịu nghe lời gièm pha, nội bộ luôn đoàn kết. Cho nên về mặt “Minh” đã thắng hẳn Viên Thiệu.

~ Thứ chín là “văn thắng”: Thiệu là người không biết phân biệt thị phi, còn ngài đối với những người chân chính thì dùng lễ để đãi ngộ, người không chân chính thì trừng trị bằng pháp luật. Cho nên, từ đó gọi ngài là người thắng hơn Viên Thiệu về mặt nhận xét thị phi, cũng tức là “văn thắng”.

~ Thứ mười là “võ thắng”: Viên Thiệu không hiểu về quân cơ, lại thích phô trương thanh thế. Trong khi đó ngài có tài dùng số ít để đánh thắng số đông, việc dụng binh tài tình như thần, có tài năng quân sự kiệt xuất, khiến kẻ thù đều sợ hãi. Đó chính là sự hơn hẳn Viên Thiệu về mặt quân sự.

Trong thời Tam Quốc, nước Ngô hùng cứ tại Giang Đông, thời gian lập quốc dài nhất. Cơ nghiệp của nước Ngô là do người thiếu niên anh hùng Tôn Sách khai sáng.

Tôn Sách tự Bá Phù, là người Phú Xuân (nay là Phú Dương, tỉnh Triết Giang, thuộc Ngô Quận). Ông sinh vào năm thứ tư niên hiệu Hy Bình thời Đông Hán (175 sau công nguyên), trong một gia đình đại tộc nổi danh tại địa phương. Cha của Tôn Sách là Tôn Kiên, tự Văn Đài, trước kia từng làm Huyện Lệnh. Sau khi bùng nổ cuộc đại khởi nghĩa Huỳnh Cân, Tôn Kiên đã chỉ huy “Thiếu niên trong thôn ấp”, kết hợp với hơn một nghìn tráng đinh chiêu mộ được, theo Hữu Trung Lang Tướng là Chu Tuấn trấn áp quân khởi nghĩa. Do có công trong tác chiến, nên được cất nhắc làm Biện Bộ Tư Mã. Về sau, ông lại theo Xa Kỵ Tướng Quân là Trương Ôn đến Dương Châu, tiến công vào thế lực cát cứ tại địa phương do Biên Chương và Hàn Toại cầm đầu. Sau khi trở về kinh được cử làm Nghị Lang.

Năm thứ tư niên hiệu Trung Bình đời vua Hán Linh Đế (công nguyên 187) Tôn Kiên được triều đình ủy nhiệm làm Thái Thú Trường Sa. Ông đã lần lượt trấn áp các cuộc nông dân khởi nghĩa tại ba quận Trường Sa, Đinh Lăng, Quế Dương, và được phong làm Ô Hoàn Hầu. Khi các chư hầu ở Quan Đông cử binh thảo phạt Đổng Trác, Tôn Kiên cũng cử binh hưởng ứng và trên đường tiến quân đã tiêu diệt những lực lượng không thuộc phe của mình. Nhờ đó, lực lượng của ông càng ngày càng to. Khi ông đến Lỗ Dương (nay là Lỗ Sơn, tỉnh Hà Nam) thì có dịp hội kiến với Viên Thuật. Viên Thuật dâng biểu tâu xin cử ông làm Phá Lỗ Tướng Quân, Thứ Sử Dự Châu. Năm thứ ba niên hiệu Sơ Bình đời vua Hán Hiến Đế (năm 192), khi Viên Thuật và Lưu Biểu tranh giành Kinh Châu, thì Tôn Kiên đi làm tiên phong và đánh bại liên tiếp Đại tướng Huỳnh Tổ của Lưu Biểu. Khi tiến lên bao vây Tương Dương, ông bị binh sĩ của Huỳnh Tổ bắn tên giết chết.

Trong khi Tôn Kiên chết thì Tôn Sách đang ở tại Thọ Xuân (nay là Thọ Huyện, tỉnh An Huy), tuổi mới vừa mười bảy, mười tám. Với độ tuổi thiếu niên anh tuấn đó, Tôn Sách thích kết nạp người hào hiệp thông minh, và luôn nuôi chí phục thù cha. Tháng mười hai năm nguyên niên niên hiệu Hưng Bình đời vua Hán Hiến Đế (công nguyên 194), ông đi Giang Đô (nay là Dương Châu, tỉnh Giang Tô) để thỉnh giáo với Trương Hoành, một danh sĩ tại Giang Hoài, về tình thế trước mắt. Ông hỏi Trương Hoành :

– Hiện nay triều đình nhà Hán đang suy vi, thiên hạ đang nhiễu nhương, tiên phụ tôi đang cùng họ Viên đánh bại Đổng Trác, công danh chưa toại thì lại bị Huỳnh Tổ sát hại. Sách tôi tuy còn nhỏ, nhưng chí không nhỏ, muốn tìm đến Viên Dương Châu để xin lại số binh lính trước đây của cha tôi, rồi sẽ theo cậu tôi tại Đơn Dương, thu thêm những người thất lạc hàng ngũ, để chiếm cứ Ngô Hội, báo thù rửa hận, đồng thời cũng làm phên giậu cho triều đình. Vậy ngài thấy thế nào ?

Trương Hoành bèn nói rõ với Tôn Sách về tình hình hiện nay :

– Nay ngài muốn theo con đường của tiên phụ, để trở thành một vị võ tướng hữu danh, nếu đến Đơn Dương và thu binh tại Ngô Hội, thì hai vùng Kinh Dương sẽ có thể hợp nhất, mối thù xưa có thể báo được. Chiếm lấy vùng Trương Giang, phấn đấu để tạo uy tạo đức, diệt trừ bọn cát cứ xấu xa, khuông phò Hán thất, thì công lao có thể sánh với Hoàn, Văn, chứ nào phải chỉ làm phên giậu thôi đâu ? Hiện nay, đời loạn nhiều khó khăn, nếu mọi việc thành công, thì nên kết hợp cùng với những người đồng chí hướng, lo xây dựng vùng đất phương Nam.

Tôn Sách tiếp nhận ý kiến của Trương Hoành, quyết định sẽ chiếm giữ vùng Giang Đông. Năm thứ ba niên hiệu Hưng Bình (công nguyên 195) một bộ hạ cũ của Tôn Kiên là Chu Trị thấy Viên Thiệu là người không có đức, cũng khuyên Tôn Sách nên lấy Giang Đông để xây dựng cơ nghiệp. Lúc bấy giờ, người cậu của Tôn Sách là Ngô Cảnh tiến đánh Phàn Năng, Trương Anh, đã kéo dài hơn một năm mà chưa thắng được. Tôn Sách thừa cơ bèn hiến kế với Viên Thuật :

– Nhà tôi có ơn cũ tại phía Đông, bằng lòng giúp cậu chinh phạt Hoành Giang. Một khi Hoành Giang bị hạ, thì sẽ chiêu mộ binh sĩ tại nơi đó ít nhất cũng được ba vạn người, để giúp sứ quân ngài khuông phò Hán thất.

Viên Thiệu đối với việc đó cảm thấy rất hứng thú bèn cử ông làm Chiết Xung Hiệu úy dẫn binh vượt qua sông. Tôn Sách chỉ huy tướng sĩ cũ của cha mình đông chừng một nghìn người, trong đó có Trình Tấn, Huỳnh Cái, Hàn Đương, Chu Trị, Lử Phạm, v.v… ngựa chừng mấy mươi con, kéo sang hướng Đông. Những tân khách lúc ở Thọ Xuân như Tương Khâm, Châu Thái, Trân Võ, v.v… cũng dẫn mấy trăm binh mã theo Sách vượt sông. Về sau, Châu Do cũng dẫn binh nghinh tiếp và trợ giúp cho tiền bạc, lương thực. Khi đến Lịch Dương (nay là Hòa Huyện, tỉnh Giang Tô), thì binh lực của Tôn Sách đã lên đến năm sáu nghìn người.

Sau khi Tôn Sách qua sông, chỉ trong vòng bốn năm ông đã liên tục chinh chiến, đánh Đông dẹp Bắc, tiêu diệt toàn bộ thế lực cát cứ ở Giang Đông, mở mang sáu quận tại đây là Đơn Dương, Ngô Quận, Cối Kê, Dự Chương, Lư Giang, Lư Lăng, xưng bá một cõi tại Giang Đông, để xây dựng sự nghiệp cho mình thời gian khai quốc nhanh chóng của Tôn Sách, hơn hẳn Tào Tháo và Lưu Bị.

Thời thế tạo anh hùng, nhưng anh hùng cũng tạo thời thế. Tôn Sách sở dĩ thành công, điều trước tiên là do quyết sách chiến lược đúng đắn. Vì “thời loạn chiếm giữ và khai thác vùng biên cương” là một quyển sách cho thấy ông là người có tầm nhìn xa rộng và sự quả đoán hơn người. Kế đó, Tôn Sách còn là người giỏi thu phục nhân tâm, “giỏi dùng người, nên kẻ sĩ ai ai cũng vui vẻ góp sức với ông cho đến chết mới thôi”. Hơn nữa, kỷ luật quân đội của ông rất nghiêm minh, quân ông kéo tới đâu thì con gà con chó, trái ớt cọng hành đều không xâm phạm, cho nên bá tánh ai ai cúng ủng hộ ông. Tất nhiên, một yếu quan trọng khác nứa là Tôn Sách dụng binh “mạnh mẽ thần tốc” kéo tới đâu thắng tới đó, không ai dám đương đầu. Vì đó chính là phẩm chất của một vị đại tướng có tài năng chỉ huy trác tuyệt của ông. Kể từ ngày ông vượt sông Trường Giang cho tới nay, đánh đâu tháng đấy, ai nghe nói đến Tôn lang kéo binh tới nơi, thì đều cuống vó bỏ chạy trước. Viên Thuật từng khen ngợi rằng :

– Nếu tôi có được một đứa con trai như Tôn Lang, thì dù có chết cũng không còn gì ân hận.

Một năm sau khi Tôn Sách vượt sông khai thác vùng Giang Đông, thì đất đai ngày một rộng, thế lực ngày một to, được xem như đã đủ lông đủ cánh, nên muốn thoát ly khỏi Viên Thuật để tự lập. Ông nghe Viên Thuật đang nuôi giấc mộng làm hoàng đế tại Thọ Xuân, bèn chụp lấy cơ hội đó cắt đứt quan hệ với Viên Thuật. Tháng giêng năm thứ hai niên hiệu Kiến An (công nguyên 197), sau khi Viên Thuật xưng đế, Tôn Sách liền áp dụng chính sách liên kết với Tào Tháo ở phương Bắc để chống lại Viên Thuật. Tào Tháo liền dâng biểu phong cho Tôn Sách làm Kỵ Đô úy, kế thừa chức Ô Hoàn Hầu, kiêm luôn chức Thái Thú Cối Kê. Về sau, Tào Tháo biết Tôn Sách đã bình định được vùng Giang Nam thì lại rất lo lắng. Nhưng vì binh lực của Tào Tháo không đủ để tranh phong với Tôn Sách ở một vùng xa xôi này, nên đành chỉ đưa mắt nhìn. Tôn Sách đánh nhau với thế lực cát cứ trong vùng rộng cả nghìn dặm, và chiếm được trọn vẹn vùng Giang Đông. Tào Tháo tuy luôn luôn tìm cách lôi kéo Tôn Sách, nhưng Tôn Sách thì không bao giờ bằng lòng chịu sự tiết chế của Tào Tháo.

Năm thứ năm niên hiệu Kiến An (công nguyên 200), trong khi Tào Tháo và Viên Thiệu giằng co tại Quan Độ, hậu phương lỏng lẻo, Tôn Sách bèn chọn thời cơ này, thực hiện kế hoạch “đánh lén vào Hứa Xương, để rước vua nhà Hán”. Tôn Sách bố trí quân đội đâu vào đấy, tập kết tại bờ sông chờ đợi. Khi tin tức này truyền đến doanh trại của Tào Tháo, tập đoàn các mưu sĩ của Tào Tháo đều “lấy làm lo sợ”. Vì Tôn Sách là người dũng cảm thiện chiến, lại có mưu sĩ trứ danh là Châu Do trợ tá. Do vậy, đối với Tào Tháo đây là một sự uy hiếp cực kỳ to lớn.

Nhưng, chỉ có Quách Gia là có ý kiến khác hơn mọi người. Ông cho rằng Tôn Sách là một thế lực không đáng lo ngại. Ông đoán, hành động này của Tôn Sách khó mả thành công. Mọi người cảm thấy khó hiểu đối với sự nhận định trên. Quách Gia bèn giải thích rồi suy đoán thêm :

– Tôn Sách vừa mới thôn tính Giang Đông, những người bị Tôn Sách giết đều là anh hùng hào kiệt cả. Dưới tay của họ có rất nhiều môn khách và tướng sĩ sẵn sàng tìm cách trả thù cho chủ nhân của mình. Trong khi đó, Tôn Sách lại rất xem thường, không chú ý phòng bị. Mặc dù dưới tay Tôn Sách có hằng triệu binh mã, nhưng một khi ông ấy đi một mình trong chỗ hoang vắng, nếu có thích khách mai phục đánh lén, thì Tôn Sách chỉ có thể dùng sức cá nhân của mình để đối phó mà thôi. Theo tôi thấy, con người này chắc chắn sẽ chết dưới tay của một kẻ thất phu.

Mọi người nghe qua lời tiên đoán của Quách Gia, vẫn bán tín bán nghi. Họ tin lời phân tích trên của Quách Gia là có lý, nhưng vẫn nghi ngờ Tôn Sách phải chăng “thực sự chết dưới tay của một kẻ thất phu”. Nhưng không bao lâu sau, sự dự đoán chừng như khó tin ấy, lại được sự thật chứng minh là đúng. Sử chép : “Sách đến Giang Đông chưa bao lâu, thì quả bị môn khách của Hứa Công giết chết”. Tất cả mọi người đều không tiếc lời khen ngợi sự tiên đoán của Quách Gia, và hết sức bái phục ông.

Thì ra, Hứa Công lúc giữ chức Thái Thú Ngô Quận, từng dâng biểu lên vua nhà Hán, kiến nghị “Triệu Tôn Sách trở về Kinh Ấp”, “nếu để ông hoạt động ở ngoài thì sẽ gây họa cho đời”. Tôn Sách biết được tin này hết sức giận dữ, bèn chỉ huy một toán quân tiến phía Nam, chiếm lấy Tiền Đường (nay là vùng phụ cận Hàng Châu, tỉnh Triết Giang), để chận không cho Hứa Công liên minh được với Cối Kê Vương là Lang, để chống cự với mình, rồi sau đó mới chuyển quân đánh lên phía Bắc. Chỉ trong một trận là chiếm được Ngô Quận, bắt Hứa Công và ra lệnh cho binh sĩ lấy thừng thắt cổ giết chết.

Sau khi Hứa Công chết, có ba môn khách thường tìm cơ hội để trả thù cho chủ mình, nhưng họ chưa gặp thời cơ thuận tiện.

Bình nhật, Tôn Sách rất thích đi săn bắn, thường dẫn theo một ít tùy tùng rồi đi vào rừng săn thú. Bộ hạ của Tôn Sách thấy vậy thường khuyên ông đừng đi ra ngoài một cách liều lĩnh như vậy. Tôn Sách dù thấy lời khuyên trên là có lý, nhưng vẫn không thể thay đổi tập quán vốn ưa thích của mình. Trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” miêu tả việc này như sau : “Một hôm, Tôn Sách dẫn quân đi săn ở Tây Sơn, thuộc vùng Đơn Đô. Ông đuổi theo một con nai to, nên đã thúc ngựa vượt lên núi. Trong khi đang truy đuổi, thấy trong rừng cây có ba người cầm giáo mang cung đứng ở đấy. Tôn Sách gò cương ngựa hỏi: “Các người là ai ?”. Đáp : “Chúng tôi là quân sĩ của Hàn Đương đang bán nai ở đây”. Trong khi Sách định thúc ngựa bỏ đi, thì một người cầm giáo nhắm đâm vào đùi của Sách. Sách cả kinh, vội vàng lấy gươm rồi thúc ngựa xông tới chém. Nhưng lưỡi gươm gãy và rơi xuống đất, chỉ còn cán gươm cầm trong tay. Một người nữa cầm cung lấp tên bắn trúng gò má của Sách. Sách nhổ mũi tên trên gò má, rồi lấy cung lắp tên bắn trả lại người đó. Đối phương trúng tên ngã xuống chết tại chỗ. Hai người còn lại bèn cầm giáo đâm Sách túi bụi và la to “Bọn ta đây là gia khách của Hứa Công, đặc biệt tìm tới nơi này để trả thù cho chủ nhân !”. Sách không còn vũ khí gì khác, phải lấy cây cung để chống trả, vừa chống vừa bỏ chạy. Hai người kia đuổi theo không tha. Sách bị trúng mấy mũi giáo, con ngựa cũng bị thương. Giữa lúc nguy cấp, thì Trình Tấn dẫn mấy người tới nơi. Sách la to : “Giết giặc ?”. Trình Tấn dẫn đám đông xông lên, dùng loạn đao bầm nát những gia khách của Hứa Công thành một đống thịt vụn. Khi họ quay lại xem Tôn Sách, thấy ông máu chảy đỏ mặt, bị thương rất nặng. Họ liền cắt vạt án dài để rịt vết thương, rồi cứu Tôn Sách về Đô Hội để dưỡng bệnh”.

Ngay đêm đó, Tôn Sách vì bị thương quá nặng nên đã chết. Năm chết ông mới hai mươi sáu tuổi. Người em là Tôn Quyền lên thay thế chỉ huy toàn bộ binh mã.

Cái chết của Tôn Sách được Quách Gia đoán trúng. Ông ta chết lúc sắp sửa tấn công Hứa Đô, đó âu cũng là ngẫu nhiên thôi. Do vậy, Bùi Tùng khi chú thích “Tam Quốc Chí” có nói : “Gia biết Tôn Sách có tính khinh nhờn, nên chắc chắn sẽ chết dưới tay của một kẻ thất phu, và mọi việc xảy ra đúng như Quách Gia đã tiên liệu. Nhưng đó cũng chưa phải là người thượng trí, vì chưa đoán được Tôn Sách sẽ chết vào năm nào. Nay Tôn Sách chết đúng vào năm chuẩn bị đánh Hứa Đô, đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên”. Nhưng ông ấy có thể đoán biết Tôn Sách “chắc chắn sẽ chết dưới tay của một kẻ thất phu, chứng tỏ ông đối với các tập đoàn chính trị, quân sự, đều hiểu rất sâu. Đối với động hướng của họ, ông hiểu rõ từng chi tiết. Đối với những nhân vật chủ chốt có tính tình ra sao, ông cũng hiểu rất cặn kẽ. Là một nhà mưu lược kiệt xuất, Quách

Gia tuy suốt ngày phải bận rộn với chuyện quân vụ trong doanh trại của Tào Tháo, nhưng đối với sở trường sở đoản, mâu thuẫn nội bộ, xu thế phát triển của các thế lực ở Giang Đông dưới sự thống trị của Tôn Sách, thì ông hiểu rõ mồn một. Điều đáng quý hơn, ấy là ông còn có tài năng rất cao để khái quát, phân tích và suy đoán những tài liệu phong phú có sẵn trong tay của mình, nên mới có thể dự kiến một cách chính xác, mà người thông thường không làm sao tưởng tượng nổi.

 Sau khi hai tập đoàn lớn cửa Tào Tháo và Viên Thiệu nổi dậy, thì họ đều có ý đồ xưng vương. Do đó, đôi bên luôn xung đột và việc đi đến đánh nhau bằng quân lực là điều không thể tránh khỏi.

Ngay từ niên hiệu Sơ Bình nguyên niên (công nguyên 190), Viên Thiệu đã từng nói :

– Tôi phải chiếm cứ và đóng giữ Hoàng Hà ở phía Nam, và khống chế Yên, Đại ở phía Bắc, rồi sau đó mới chỉ huy tướng sĩ ở phía Bắc đại hà, tiến xuống phía Nam để giành thiên hạ.

Đến tháng sáu năm thứ tư niên hiệu Kiến An (công nguyên 99), Viên Thiệu sau khi tiêu diệt được Công Tôn Toản và chiếm được bốn châu Thành, Ký, Tín, U, thì quân đội đã tăng lên mấy vạn người, thế lực càng thêm hùng mạnh. Ông triệu tập các tướng lãnh và các mưu sĩ lại để nghiên cứu các phương án tác chiến. Trải qua một cuộc tranh luận kịch liệt, cuối cùng ông đã lấy ý kiến của Quách Đồ Thẩm Phối, xác định phương châm tác chiến và lập tức tiến công, tập trung binh lực, đánh thốc vào Hứa Xương. Do vậy, ông liền chọn mười vạn tinh binh, một vạn ngựa chiến, tám nghìn kỵ binh người Hồ, tiến xuống phía Nam dự định đánh lấy Hứa Xương.

Sau khi Viên Thiệu xuất quân, một số văn thần võ tướng của Tào Tháo đều sợ hãi. Trải qua sự giải thích và động viên của Tào Tháo và Tuân Vực, họ mới tạm ổn định và đoàn kết nhất trí, đưa binh đi nghinh địch với một niềm tin vững chắc. Lúc bấy giờ Tào Tháo điều hai vạn tinh binh và tiến quân đến Lê Dương vào tháng tám năm công nguyên 199, chủ động chận đánh địch.

Không ngờ, giữa lúc Tào Tháo bố trí quân lực để tác chiến với Viên Thiệu, thì vào tháng mười hai năm công nguyên 199, Lưu Bị, người vốn trước đây từng nương nhờ vào Tào Tháo, lại đứng lên giết chết Thứ Sử Từ Châu là Xa Trụ, chiếm lấy Từ Châu, Hạ Phi cùng một số địa phương khác, rồi tiếp tục cử binh chống lại Tào Tháo, tạo thế hưởng ứng từ xa với Viên Thiệu. Lúc bấy giờ, quận Đông Hải và các quận gần đó, hầu hết đều chạy theo Lưu Bị. Quân đội của Lưu Bị tăng lên đến mấy vạn người, thanh thế khá to. Đứng trước tình hình bất ngờ đó, Tào Tháo vì muốn tránh đối địch với hai chiến tuyến, liền chuẩn bị tự mình thân chinh, nhanh chóng đánh bại Lưu Bị.

Ngoài ra, Tào Tháo từ lâu đã nhận thấy trong tương lai, người đứng ra tranh thiên hạ với mình chính là Lưu Bị. Cho nên ông từng nói với Lưu Bị :

– Anh hùng trong thiên hạ chỉ có sứ quân và Tào này thôi ?

Trước kia, khi Lưu Bị thất bại chạy đến nương nhờ, Tào Tháo đã ra sức lôi kéo. Về sau, Lưu Bị muốn đưa quân đi đánh Viên Thuật, Tào Tháo cũng đồng ý để cho Lưu Bị rời đi.

Lúc bấy giờ, Quách Gia từng nắm cương ngựa lại, khuyên can :

– Thả Lưu Bị tất sẽ có biến đấy – ông còn nói thêm – cho dù không giết Lưu Bị, thì cũng không nên để cho ông ấy ra đi.

Quách Gia còn dẫn một câu cổ ngữ : “một ngày thả địch, hậu hoạn muôn đời” để làm bằng chứng. Tào Tháo nghe qua cảm thấy rất hối hận, bèn sai Hứa Chứ cưỡi ngựa đuổi theo. Nhưng, Lưu Bị như cá đã vào biển, như chim đã bay vào trời xanh, một ra đi không bao giờ trở lại. Tào Tháo rất hối hận vì đã không nghe lời nói của Quách Gia. Giờ đây, Lưu Bị đã công khai phản lại, tất nhiên Tào Tháo không thể xem thường được.

Nhưng các tướng lãnh dưới trướng của Tào Tháo cảm thấy rất khó hiểu, nên nói với Tào Tháo :

– Người tranh thiên hạ với ngài chủ yếu là Viên Thiệu. Hiện nay Viên Thiệu đang xua quân tiến đánh, vậy tại sao ngài lại buông bỏ Viên Thiệu không đánh, mà lại đông chinh để đánh Lưu Bị ? Vạn nhất Viên Thiệu thừa cơ sau lưng mình trống rỗng, đánh vào thì phải đối phó ra sao ?

Tào Tháo giải thích:

– Lưu Bị là một ánh kiệt trong quần hùng, nay nếu không trừ, tất sẽ có hậu hoạn.

Trong thời điểm căng thẳng đó, Quách Gia đã tán thành ý kiến của Tào Tháo. Ông nói:

– Viên Thiệu là người có tính chậm chạp, cho dù có tiến đánh cũng không thể nhanh chóng. Trong khi đó Lưu Bị mới cử binh không bao lâu, nhân tâm chưa quy phục, lực lượng chưa to, phải đánh thực nhanh chóng thì có thể đánh bại được ông ta. Đây là một cơ hội sinh tử tồn vong, tuyệt đối không thể để mất.

Tào Tháo hạ quyết tâm, chính mình chỉ huy tinh binh đi bất kể ngày đêm tiến về phía đông, nhanh chóng đánh chiếm được Bành Thành, Hạ Phi, bức hàng Quan Vũ. Toàn quân của Lưu Bị bị đánh tan rã, vợ con bị bắt sống. Bản thân Lưu Bị phải bỏ chạy đến Hà Bắc để nương nhờ vào Viên Thiệu.

Việc kéo quân đông chinh để đánh Lưu Bị, có thể nói là khúc nhạc mở đầu cho trận đại chiến Quan Độ. Đối với Tào Tháo mà nói, trận đánh nhau với Viên Thiệu sẽ bùng nổ nay mai, vậy nếu không nhanh chóng dập tắt thế lực phản loạn của Lưu Bị, để nó từ một tia lửa nhỏ bừng cháy rộng ra khắp mọi nơi, thì Tào Tháo sẽ lâm vào khốn cảnh là hai mặt đều thụ địch. Vậy, trước khi trận đại chiến bùng nổ, cần phải tiêu diệt kẻ thù thứ yếu để củng cố hậu phương, đó là một hành động hết sức sáng suốt. Tào Tháo có quyết sách như vậy là hoàn toàn chính xác. Nhưng ý kiến của các tướng lãnh không phải hoàn toàn không có lý. Vì đối với Viên Thiệu mà nói, một khi Lưu Bị khởi binh đánh Tào Tháo, thì đúng là thời cơ tuyệt hảo để cho Viên Thiệu tấn công quân Tào. Cho nên, sự lo ngại của các tướng lãnh cũng là một vấn đề quan trọng.

Khi thấy các tướng lãnh tỏ ý phản đối, thì ngay cả Tào Tháo cũng tỏ ra do dự, chưa dám quyết định dứt khoát. Ông bèn hỏi ý kiến Quách Gia. Sau khi nghe qua lời phân tích của Quách Gia, thì bao nhiêu nỗi lo ngại trong lòng ông đều bay đi tất cả. Quách Gia đã phân tích tình hình của Viên Thiệu và Lưu Bị, cho thấy nếu Tào Tháo đông chinh, Viên Thiệu có thể vẫn ngồi yên để xem thành bại, chứ không tức khắc tiến binh (về sau sự thực đã chứng minh là đúng). Được vậy tất nhiên là tốt. Nhưng, nếu vạn nhất Viên Thiệu có xuất binh, thì “tốc độ tiến quân cũng không nhanh”, do Viên Thiệu có “tính chậm chạp và đa nghi”. Như vậy, sẽ cho Tào Tháo một khoảng thời gian quý giá có thể lợi dụng được, mặc dù nó rất ngắn ngủi. Then chốt là ở chỗ quân Tào trong khoảng thời gian hết sức ngắn ngủi đó, có thể nhanh chóng giành được thắng lợi trong cuộc dẹp loạn hay không ? Nếu việc đông chinh kéo dài thời gian, khó đánh bại được Lưu Bị ngay, thì kế hoạch đông chinh không thể thực thi được. Mà điểm này phải từ sự so sánh lực lượng giữa đôi bên mà quyết định. Riêng Quách Gia, đối với các mặt binh lực, sức chiến đấu, sĩ khí, dân tâm của đôi bên đã phán đoán nếu “đánh gấp thì sẽ thắng”. Điều đó cũng hoàn toàn phù hợp với quy luật cơ bản của quân sự học. Qua luận chứng của Quách Gia, khiến Tào Tháo lập tức củng cố niềm tin của mình hơn, và đã giành được thành công.

Vê phía Viên Thiệu, trong khi Tào Tháo mở cuộc đông chinh thì mưu sĩ Điền Phong kiến nghị :

– Tào Tháo và Lưu Bị đang đánh nhau, chiến sự chắc là không thể giải quyết nhanh chóng được. Vậy ngài nên cử binh tấn công vào hậu phương của Tào Tháo, thì chỉ đánh một trận thôi, là có thể giành được thắng lợi.

Điền Phong tuy nhận xét lầm Tào Tháo không có cách nào đánh bại được Lưu Bị một cách nhanh chóng, nhưng kiến nghị nên thừa lúc đối phương sơ hở mà tấn công của ông ta, lại chính là điều mà tập đoàn Tào Tháo đang lo ngại nhất. Nhưng Viên Thiệu mượn cớ con mình bị bệnh, không tiếp nhận kiến nghị của Điền Phong, mà vẫn tiếp tục án binh bất động. Điền Phong thấy vậy cất tiếng than : “Gặp cơ hội nghìn năm một thuở mà lại lấy cớ hài nhi bị bệnh, bỏ mất thời cơ. Đại sự đã hỏng rồi, thực đáng tiếc thay !”. Dứt lời, ông giậm chân thở dài rồi bỏ đi ra.

Qua câu chuyện trên, có thể nhận thấy Quách Gia đối với thời cơ đã nắm rất kịp thời. Nắm vững tình huống diễn biến phức tạp của sự vật, cũng như những sự thay đổi bất ngờ có thể có của nó, rồi căn cứ vào điều kiện cụ thể, không buông bỏ thời cơ, chính là trí tuệ cần có của các nhà mưu lược. Thời cơ thường chỉ đến một lần rồi qua mất, không bao giờ trở lại. Mọi người vẫn thường nói “Bỏ qua dịp tốt, tiếc rẻ nghìn đời” để cảnh báo mọi người nên kịp thời nắm lấy mọi diễn biến của sự vật, nắm lấy khâu quan trọng nhất, và biết ứng biến tùy thời cơ. Tất cả những việc đó đều phải có đôi mắt sáng suốt. Khi thời cơ vừa xuất hiện là đã nhận thấy ngay, chụp nó liền, quyết không để cho nó thoát đi. Về mặt này, Quách Gia và Điền Phong rõ ràng là người đã có đôi mắt như vậy. Quách Gia bảo việc đông chinh đánh Lưu Bị là “thời cơ sống chết, không thể bỏ qua”. Điền Phong thì nói : “Thời cơ hiếm có lại để mất đi. Đại sự đã hỏng rồi “. Mặc dù đôi bên đã nói trong trường hợp khác nhau, nhưng phản ánh họ có cùng một ý nghĩa, thời cơ nghìn năm một thuở hết sức quý báu. Phải chăng có thể nắm được nó, là một vấn đề cực kỳ trọng đại, có ảnh hưởng rất sâu xa.

Cố nhiên việc phát hiện thời cơ là một vấn đề quan trọng. Nhưng, cuối cùng phải chăng có thể nắm được nó mới là điều đáng nói. Về mặt này, Quách Gia đã thành công, còn Điền Phong thì đã thất bại. Nguyên nhân sâu xa của sự thành công và thất bại đó, vì họ đều là mưu sĩ, chỉ có quyền kiến nghị chứ không có quyền định đoạt. Cả hai người đều phát hiện thời cơ, nói rõ phương pháp để nắm lấy thời cơ, nhưng người định cuối cùng lại là Tào Tháo và Viên Thiệu. Kết cục, một người thì tiếp nhận, còn người khác thì buông bỏ, cho nên mới dẫn tới kết quả hoàn toàn khác nhau.

Tất nhiên, mỗi sự vật đều có hướng đi khác nhau của nó, và trong quá trình vận hành đó, lại có nhiều sự chuyển biến xảy ra. Như vậy, nó đề xuất cho mọi người nhiều khả năng để chọn lựa. Luôn nắm lấy thời cơ, thì phải dự kiến cho được hướng đi cuối cùng của sự vật, gạt bỏ tất cả những khả năng khác. Như vậy, đương nhiên là có tính nguy hiểm trong đó. Cho nên một nhà mưu lược cần có năng lực phán đoán và dự kiến một cách gan dạ, thông minh chuẩn xác. Cho nên có thể nói, khả năng dự kiến chính là khả năng không thể thiếu được của những nhà mưu lược. Riêng về mặt này, nếu so sánh giữa Điền Phong và Quách Gia, thì rõ ràng Điền Phong kém hơn một bậc.

Quách Gia dự kiến khi đông chinh để đánh Lưu Bị, thì có thể giành được thắng lợi nhanh chóng. Trong khoảng thời gian này Viên Thiệu rất có khả năng xuất binh. Nhưng cho dù có xuất binh, thì cũng do bản tính chậm chạp nên không ảnh hưởng to lớn đối với tình hình chung. Về sau, sự thực đã nhất nhất chứng minh tính chuẩn xác của dự đoán trên. Trong khi đó, Điền Phong có một sai lầm thứ nhất, là dự đoán Tào Tháo không thể đánh thắng Lưu Bị nhanh chóng. Thứ hai, chính bản thân ông đã không chọn được người chúa sáng suốt. Dù ông có thể nghĩ ra nhiều mưu kế hay, nhưng chả lẽ ông lại không hiểu rõ vị chúa công của mình là người có tánh cách ra sao ? Ông nuôi ảo tưởng, Viên Thiệu sẽ nghe theo những kiến nghị của mình. Chính vì vậy mà ông khó tránh khỏi nhiều sự thất bại. Tính dự kiến chuẩn xác phải đặt trên cơ sở biết người. Quách Gia đối với Viên Thiệu tỏ ra hiểu biết sâu sắc hơn so với Điền Phong. Điều đó chính là lý do đưa Quách Gia đến nhiều sự thành công.

Sau khi đánh bại Lưu Bị, Tào Tháo nhanh chóng rút quân về Quan Độ. Tháng hai năm thứ năm niên hiệu Kiến An (công nguyên 200), Viên Thiệu tiến quân đến Lê Dương, phía Nhan Lương xua quân bao vây tấn công Bạch Mã, để đảm bảo an toàn cho chủ lực vượt sông, Tào Tháo đã áp dụng chiến thuật thanh đông kích tây, để hấp dẫn quân của Viên Thiệu đến Diên Tân, rồi mới cấp tốc đưa quân đến giải vây cho Bạch Mã. Đại quân của Tào Tháo đi chưa được mười dặm thì đã gặp Nhan Lương. Nhan Lương vừa trông thấy quân Tào thì kinh hoàng thất sắc, vội vàng dàn trận để nghênh chiến. Tào Tháo ra lệnh cho Trương Liêu, Quan Vũ vừa nhìn thấy lá đại kỳ của Nhan Lương liền thúc ngựa chạy nhanh như bay đến phía dưới lá cờ chém chết Nhan Lương giữa hàng triệu binh sĩ. Quân Nhan như rắn mất đầu, rối loạn hàng ngũ nên việc giải vây Bạch Mã đã tiến hành một cách dễ dàng.

Viên Thiệu nghe tin cả giận, ra lệnh cho toàn quân vượt sông để truy kích. Ông ta còn ra lệnh cho Đại tướng Văn Sửu dẫn năm nghìn binh làm tiên phong đi mở đường.

Lúc bấy giờ, quân Tào đang rút lui về Quan Độ. Khi tới bờ nam Diên Tân, Tào Tháo ra lệnh cho kỵ binh gỡ bỏ yên ngựa, và không mấy chốc, chiến mã bỏ chạy loạn xạ, vũ khí vứt đầy đất. Văn sửu nhanh chóng đuổi kịp, thấy quân Tào đã bỏ chạy, bèn bảo binh sĩ thu lượm chiến lợi phẩm. Nào ngờ, sau một tiếng ra lệnh của Tào Tháo, sáu trăm tinh binh đang mai phục sẵn, nhanh nhẹn phi thân lên lưng ngựa, xông ra chém giết quân của Viên Thiệu với khí thế mãnh liệt chưa từng có. Quân Viên Thiệu không kịp đề phòng, vừa giao phong là đã bại trận. Đại tướng Văn Sửu cũng trở thành ma không đầu dưới lưỡi đao của đối phương.

Viên Thiệu bị hao binh tổn tướng, nhưng nhất định không chịu thua. Ông ta ra lệnh cho chiến sĩ tiếp tục tiến binh và truy đuổi theo tới Quan Độ, mới xuống lệnh hạ trại đóng binh. Lúc bấy giờ, quân Tào đã bố trí trận địa xong từ lâu, đắp lũy thật kiên cố. Viên Thiệu ra lệnh cho binh sĩ của mình đấp những núi đất to bên ngoài doanh trại của Tào Tháo, rồi bố trí những tay bắn cung giỏi lên trên cao bắn xuống. Quân binh của Tào Tháo phải dùng thuẫn để che tên, mới có thể đi lại được trong doanh trại.

Bị bắn liên miên như vậy, Tào Tháo cảm thấy thực lo lắng, bèn triệu tập các mưu sĩ lại để bàn cách đối phó. Cuối cùng, trong doanh trại cửa Tào Tháo sáng chế ra được một loại “xe sấm sét”. Trên loại xe này đặt một cái máy bắn đá, có sức mạnh bắn những viên đá mười mấy cân bay ra xa ngoài ba trăm bộ. Nhờ vậy những ụ đất cao cũng như những đài cao của Viên Thiệu, đều bị bắn sập. Những tay bắn cung bị đá bắn trúng vỡ đầu đổ máu, thương vong vô số. Viên Thiệu liền ra lệnh cho binh sĩ lợi dụng đêm tối, lén đào địa đạo định bất thần tấn công vào doanh trại của Tào Tháo. Quân Tào sau khi phát hiện, bèn đào những rảnh chắn ngang, cắt đứt địa đạo của đối phương. Kế hoạch đánh lén của Viên Thiệu xem như thất bại hoàn toàn.

Do vậy, hai quân chong mặt nhau nhiều ngày, mà tình hình không có sự tiến triển chi cả.

Mấy hôm sau, lương thực của quân Tào bắt đầu khiếm khuyết, sĩ tốt bắt đầu mỏi mệt, Tào Tháo có ý định rút bỏ Quan Độ lui về giữ Hứa Xương. Nhưng mưu sĩ Tuân Vực viết thơ khuyên : “Tuy nay lương thực trong quân đội khiếm khuyết, nhưng chưa bằng tình hình khiếm khuyết lương thực hai quân Sở và Hán đánh nhau tại Huỳnh Dương và Thành Cao. Lúc bấy giờ Lưu Bang và Hạng Võ không ai chịu rút lui cả. Vì kẻ nào rút lui trước thì kẻ đó sẽ bị thiệt hại to. Nay ngài với một binh lực yếu kém hơn, mà đã chia ranh giữ đất, nắm lấy yết hầu của đối phương để chúng không thể tiến lên được. Tình hình đó đã kéo dài nửa năm rồi, vậy một khi tình hình diễn biến đến mức cùng cực, thì tất nhiên sẽ có biến động. Đến chừng đó, chúng ta sẽ dùng kỵ binh tập kích, chắc chắn sẽ giành được thắng lợi thôi”. Thế là Tào Tháo quyết tâm tăng cường phòng thủ, chịu đựng khó khăn trước một tình thế đầy gay go, để chờ sự biến động, rồi mới chụp lấy thời cơ mà đánh đối phương.

Quả nhiên, nội bộ của Viên Thiệu đã bộc lộ sự mâu thuẫn. Mưu sĩ Hứa Do hiến kế cho Viên Thiệu, bằng lòng để cho ông ta nhân lúc Hứa Đô phòng thủ lỏng lẻo, phái một cánh binh đi vòng qua Quan Độ tập kích Hứa Đô. Viên Thiệu không nghe, cố chấp nói:

– Ta phải dẫn đầu để bắt Tào Tháo !

Vừa lúc đó, người nhà của Hứa Do vì phạm pháp nên bị bắt giam. Hứa Do nghe được tin này thì cả giận, ngay trong đêm đã chạy sang đầu hàng Tào Tháo. Mới vừa định cởi hia nằm ngủ, nghe tin Hứa Do xin yết kiến, Tào Tháo vui mừng, bèn đi chân không ra nghênh đón. Vừa trông thấy mặt, Tào Tháo vỗ tay cười, nói :

– Có ông tới đây, thì đại sự của tôi có hy vọng thành công rồi!

Hứa Do bèn cung cấp tin cho Tào Tháo biết, hiện quân đội của Viên Thiệu đang dự trữ lương thực tại Ô Sào, việc canh phòng không nghiêm ngặt. Hứa Do kiến nghị Tào Tháo phái một cánh quân lén vào đấy, đốt sạch lương thảo đi. Nếu được vậy, thì “không quá ba ngày, Thiệu chắc chắn sẽ đại bại”.

Tào Tháo nghe qua vui mừng, lập tức hành động ngay. Ông để Tào Hồng, Tuân Du ở lại giữ đại doanh, còn chính mình thì dẫn bộ binh và kỵ binh hơn năm ngàn người, trương cờ quân Viên Thiệu, lợi dụng đêm tối, âm thầm theo đường tắt đến Ô Sào. Đến nửa đêm thì họ đã tới nơi. Quân Tào liền bao vây kho lương, nổi lửa đốt khắp bốn bên, thiêu rụi một vạn xe lương thực của quân Viên Thiệu.

Tin tức lương thảo bị đốt cháy truyền đến tiền tuyến, quân của Viên Thiệu đều sợ hãi hoang mang mất cả bình tĩnh. Đại tướng Trương Hợp, Cao Lãm quay ngược mũi giáo, dẫn binh sĩ dưới tay mình chạy sang đầu hàng Tào Tháo. Tào Tháo thừa thế đẩy mạnh cuộc tấn công, xuất kích toàn diện. Quân Viên Thiệu bỏ chạy tứ tán. Viên Thiệu và con trai của ông là Viên Đàm chưa kịp mặc khôi giáp, dẫn tám trăm kỵ binh hốt hoảng bỏ chạy về Hà Bắc.

Sau trận chiến bại tại Quan Độ, thế lực của Viên Thiệu cũng còn to lớn, nhưng bản thân ông lại quá buồn lo, nên đã ngã bệnh và ói máu chết vào năm thứ bảy niên hiệu Kiến An (công nguyên 202). Lúc bấy giờ, tập đoàn họ Viên vẫn còn thế lực to lớn. Đứa con trai nhỏ của Viên Thiệu là Viên Thượng đóng tại Nghiệp Thành, chỉ huy quân đội cũ của cha. Riêng Viên Đàm, Viên Khang thì khống chế hầu hết đất đai ở vùng phía Bắc sông Hoàng Hà.

Mấy đứa con trai của Viên Thiệu, mỗi người đều có ý đồ khác nhau, không đoàn kết nhau, mạnh ai nấy lo mở rộng thế lực riêng của cá nhân mình. Lúc Viên Thiệu còn sống, họ tranh giành quyền nối ngôi với nhau nên ai cũng bổ sung và mở rộng thực lực của mình. Họ dựa vào bè cánh đấu tranh với nhau không ngừng nghỉ. Mưu sĩ Thẩm Phối, Phừng Kỷ, ủng hộ Viên Thượng là người con nhỏ được Viên Thiệu ưa thích. Còn Tân Bình, Quách Đồ thì ủng hộ người con trai trưởng của Viên Thiệu là Viên Đàm. Sau khi Viên Thiệu chết, Thẩm Phối truyền di mệnh giả của Viên Thiệu, đưa Viên Thượng lên nối ngôi. Viên Đàm tất nhiên rất bất mãn, thường có những lời lẽ oán trách.

Viên Thượng cũng nghi ngờ người anh cả của mình, nên cấp cho quân đội rất ít. Viên Thượng còn phái Phùng Kỷ đi theo Viên Đàm, trên danh nghĩa là để phụ tá, nhưng kỳ thật là để theo dõi. Viên Đàm nhiều lần yêu cầu tăng thêm binh mã, nhưng Viên Thượng và Thẩm Phối vẫn một mực không nghe. Vì quá tức giận, Viên Đàm đã giết Phùng Kỷ. Như vậy, mối mâu thuẫn giữa anh em họ Viên lại càng gay gắt hơn.

Sau trận đánh Quan Độ, Tào Tháo để cho binh sĩ của mình được nghỉ ngơi, rồi mới lợi dụng mối mâu thuẫn giữa Viên Thượng và Viên Đàm, xua quân vượt sông Hoàng Hà, tiến lên phía Bắc để chinh phạt. Tháng chín năm thứ bảy niên hiệu Kiến An, quân Tào tấn công Viên Đàm đang đóng binh tại Lê Dương. Đàm không đủ sức chống trả, buộc phải cấp báo và xin viện binh với Viên Thượng. Viên Thượng muốn phái binh giúp cho anh, nhưng sợ Viên Đàm mượn quân rồi không trả. Vậy nếu ngồi nhìn mà không cứu thì lại sợ Lê Dương bị mất, không có lợi cho mình. Do vậy, Viên Thượng để Thẩm Phối ở lại giữ Nghiệp Thành, còn bản thân mình thì dẫn đại quân đi cứu viện Lê Dương. Kết quả Viên Đàm, Viên Thượng, Viên Khang, Cao Cán (cháu họ ngoại của Viên Thiệu) đều bị đại bại, bỏ Lê Dương lui về bảo vệ Nghiệp Thành. Tào Tháo chiếm cứ được Lê Dương là cửa ngõ quan trọng của Ký Châu, dựa vào đó tạo điều kiện thuận lợi để tiến lên tiêu diệt tập đoàn họ Viên.

Do quân Tào chiến thắng liên tiếp, nên các tướng lãnh đều phấn khởi, muốn thừa thắng truy kích và bao vây để hạ Nghiệp Thành. Giữa lúc mọi người đang phấn khởi thì Quách Gia bỗng đề xuất nên dừng ngay cuộc tấn công, rút quân trở về để mở ngay cuộc Nam chinh đánh Lưu Biểu. Mọi người hoang mang không hiểu ra sao. Họ liên tưởng trước đây khi đánh Lử Bố tại Hạ Phi, Quách Gia đã áp dụng chiến thuật thừa thắng tấn công tới tấp. Trước tình hình binh mã của đối phương đang mệt mỏi, nên chỉ tấn công có hai tháng, là đã bắt sống được Lữ Bố và giết đi. Nay anh em họ Viên đang bại trận liên tiếp, chỉ cần bao vây Nghiệp Thành và tấn công mạnh, thì sẽ hạ được thành này một cách nhanh chóng. Thế tại sao lại chủ trương rút quân ? Nếu giờ đây điều quân xuống phía Nam để chinh phạt Lưu Biểu, há chẳng phải để cho hai anh em họ Viên có thì giờ nghỉ ngơi dưỡng sức hay sao ?

Đối với việc này, Quách Gia tất nhiên có kiến giải độc đáo của mình. Ông giải thích cho mọi người một cách tự tin :

– Lúc còn sinh tiền, Viên Thiệu tỏ ra thương yêu hai đứa con trai này nhất, cho nên việc nối ngôi chưa thể quyết định dứt khoát. Nay có Quách Đồ, Phùng Kỷ làm mưu thần, thì chắc chắn anh em họ sẽ tranh giành với nhau, và cuối cùng sẽ đường ai nấy đi, xem nhau như kẻ thù. Nếu chúng ta tấn công quá gấp, buộc họ phải đoàn kết lại để đối phó với chúng ta. Trái lại, nếu chúng ta chậm lại việc tấn công, thì họ sẽ từ chỗ tranh giành nhau đi tới chỗ đánh nhau. Vậy, nay chi bằng chúng ta rút quân tiến xuống phía Nam, giả vờ như thọc vào Kinh Châu để đánh Lưu Biểu, rồi chờ xem sự diễn biến giữa hai anh em họ. Một khi nội bộ của họ xảy ra biến loạn, thì chúng ta sẽ xua quân xuất kích, và chỉ một trận đánh thôi, là có thể bình định được vùng Hà Bắc.

Quách Gia đề xuất mưu lược này, có thể nói là kế “ngao cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi”. Đấy là một phương án hữu hiệu nhất để tiêu diệt hai anh em nhà họ Viên, và chỉ tốn một nửa công sức cũng thu được thành quả to gấp nhiều lần. Trước tình thế thắng lợi liên tiếp như trên, nếu thừa thắng tiến lên tiêu diệt hai anh em họ Viên, thì chừng như là một điều hoàn toàn hợp lý. Đồng thời, đại để cũng có thể giành được sự thành công. Nhưng một “khi bị dồn vào chân tường”, sức liều mạng của một con người có thể chống cự nổi với hằng vạn người khác. Hai anh em họ Viên chiếm đóng Nghiệp Thành là nơi đã được Viên Thiệu kinh doanh nhiều năm, tất nhiên không phải dễ hạ. Huống hồ gì thực lực của họ Viên vẫn còn tương đối to, nếu vây đánh, họ sẽ chống cự một cách ngoan chừng, dẫn đến ta phải trả giá đắt. Cho nên cách đánh đó không phải là một cách đánh sáng suốt.

Lúc bấy giờ, do quân lực cửa Tào Tháo đã áp sát Nghiệp Thành, nên mối mâu thuẫn trong tập đoàn họ Viên tất nhiên được họ xem là thứ yếu. Những mưu sĩ sáng suốt, thường biết lợi dụng mối mâu thuẫn trong nội bộ của kẻ thù để giành thắng lợi. Trong nội bộ kẻ thù không mâu thuẫn, họ cũng tìm đủ cách tạo ra những mối mâu thuẫn cho chúng. Giờ đây, mặc dù trong nội bộ tập đoàn họ Viên mâu thuẫn lớp lớp, nhưng đứng trước đại địch thì những mối mâu thuẫn đó tất nhiên không thể bùng nổ được. Do vậy, Quách Gia chủ trương dừng cuộc tấn công, chính là để tạo điều kiện cho mối mâu thuẫn đó tiếp tục phát triển, dẫn đến hai anh em chúng tàn sát với nhau. Như vậy, quân Tào sẽ thừa cơ mà khống chế địch, mượn tay địch để làm suy yếu thực lực của địch, còn ta thì ngồi không thủ lợi. Đây quả là một diệu kế không cần đánh mà vẫn khuất phục được người.

Nghe qua lời giải thích của Quách Gia, mọi người đều gật đầu cho là phải. Tào Tháo vui vẻ chấp nhận kiến nghị của Quách Gia. Tháng tám năm thứ tám niên hiệu Kiến An (công nguyên 203), Tào Tháo xuống lệnh mở cuộc Nam chinh để đánh Lưu Biểu. Lúc bấy giờ Lưu Biểu ở Kinh Châu đã ổn định được ba quận Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương ở phía Nam, và đang chú ý theo dõi sự diễn biến tình hình ở Trung Nguyên. Cho nên việc Tào Tháo rút quân về phía Nam, đã làm cho Lưu Biểu sợ hãi, không dám liều lĩnh xua quân tiến lên phía Bắc để khuấy phá vùng đất do Tào Tháo kiểm soát.

Như vậy là đủ rồi. Vì cái mà Tào Tháo cần, là để cho hai anh em họ Viên thấy hiệu quả của một cuộc tiến quân giả vờ. Sau khi Tào Tháo rút lui, đã để lại Giả Tín giữ Lê Dương, Tào Hồng giữ Quan Độ, còn mình thì trở về Hứa Xương. Kế đó, ông mới xua quân về phía Nam, làm động tác giả như kéo quân đánh Lưu Biểu. Mặc dù Tào Tháo kéo quân về phía Nam nhưng cứ đi một bước thì quay mặt lại nhìn ba lần, để theo dõi mọi sự động tỉnh giữa hai anh em họ Viên. Khi Tào Tháo kéo quân tới Tây Bình (nay nằm về phía Tây huyện Tây Bình, tỉnh Hà Nam) thì nhận được tin tức Viên Đàm phái Tân Tỷ đến xin đầu hàng và cầu cứu.

Thì ra, tất cả mọi diễn biến đúng như sự tiên liệu của Quách Gia. Sau khi quân Tào rút lui về phía Nam, thì Viên Đàm và Viên Thượng vốn đang sợ hãi, cảm thấy vui mừng. Kế đó, hai anh em liền bắt đầu tranh giành Ký Châu. Viên Đàm lấy cớ truy kích, yêu cầu Viên Thượng trang bị cho mình vũ khí và khôi giáp tốt hơn. Viên Thượng không bằng lòng, Viên Đàm cả giận, lại được Quách Đồ và Tân Bình xúi bẩy, xua quân tấn công Viên Thượng. Kết quả, Viên Đàm đại bại kéo trở về, bỏ chạy đến Bình Nguyên (nay nằm về phía Nam Bình Nguyên, tỉnh Sơn Đông). Viên Thượng cũng dẫn binh đuổi theo và bao vây chặt chẽ vùng Bình Nguyên, rồi từ bốn mặt đánh vào. Viên Đàm thấy khó giữ được Bình Nguyên, và trong khi không còn kế gì, đành phải nghe theo kiến nghị của Quách Đồ, phái người em trai của Tân Bình là Tân Tỷ chạy sang Tào Tháo xin đầu hàng và xin cấp tốc tăng viện.

Tào Tháo thấy hai anh em họ Viên quả nhiên đã đánh nhau, trong lòng cả mừng. Nhưng đối với việc Viên Đàm xin đầu hàng, thì ông vẫn còn nghi ngại. Mưu sĩ Tuân Do cho rằng:

– Hiện nay trong thiên hạ đang lắm chuyện xảy ra, quần hùng ai ai cũng muốn tranh đoạt thiên hạ, nên lúc nào cũng đấu trí đấu sức. Trong khi đó thì Lưu Biểu chỉ lo gìn giữ vùng đất giữa Trường Giang và Hán Thủy, chứ không nghĩ đến điều chi khác. Như vậy cũng đủ thấy ông ta là người không có chí lớn. Riêng họ Viên thì chiếm cứ vùng đất Tứ Xuyên, binh mã đông đến mấy chục vạn. Viên Thiệu sau nhiều năm xây dựng thế lực đã có cội vững rễ sâu. Nếu hai người con trai của ông ta sống chung một cách hòa thuận, lo gìn giữ sự nghiệp của cha thì sẽ rất khó bình định. Nhất là nếu cả hai cùng hợp nhất lực lượng lại, để lo đối phó với lực lượng xâm phạm từ bên ngoài, thì lại càng khó đối phó hơn. Nhưng giờ đây hai anh em họ thù địch nhau, quyết một còn một mất, đúng là thời cơ trời cho, vậy phải thừa lúc họ đang nỗi loạn, nhanh chóng bình định hai anh em họ Viên để thống nhất thiên hạ. Đây là thời cơ hiếm có không thể để mất.

Tào Tháo lại hỏi Tân Tỷ, xem việc xin đầu hàng là thực hay là giả dối. Tân Tỷ là người đã quyết định chạy theo Tào Tháo, nên liền đáp:

– Minh công không cần hỏi đấy là thực hay là giả, mà chỉ dựa vào tình thế để xét đoán cũng đủ biết rồi. Họ Viên liên tiếp mấy năm đều bại trận, bên ngoài thì binh sĩ mệt mỏi, bên trong thì giết hại mưu thần, anh em cấu xé nhau, đất nước bị chia hai. Thêm vào đó nạn đói xảy ra liên tiếp, thiên tai nhân họa không ngừng, bất kể là người trí hay người ngu, đều chịu nạn như nhau cả. Đó là ý trời muốn tiêu diệt họ Viên. Nay minh công cử binh tấn công Nghiệp Thành, Viên Thượng nếu không kéo quân trở về cứu, thì sẽ mất sào huyệt, trái lại, nếu trở về cứu, thì Viên Đàm sẽ nối gót theo sau. Với cái uy của minh công mà đem đi đánh bọn binh sĩ mệt mỏi, thì nào có khác chi gió mùa Thu quét lá vàng. Tại sao ngài không tiêu diệt lực lượng cửa họ Viên ở đây, mà lại kéo đi chinh phạt Kinh Châu ? Kinh Châu là nơi giàu có, dân và nước đều hòa thuận, vị tất có thể làm gì họ được. Hơn nữa, cái họa từ bốn phương tới, không có họa nào bằng cái họa Hà Bắc. Nếu Hà Bắc được bình định, thì sự nghiệp xưng bá sẽ hoàn thành. Vậy mong minh công suy nghĩ kỹ.

Tào Tháo nghe qua, lấy làm đồng cảm, nói :

– Ta đánh Lữ Bố, Biểu không chống ta. Khi ta đánh Quan Độ, Biểu cũng không cứu Viên Thiệu. Đó là một tên giặc chỉ biết tự lo cho mình, vậy ta để đấy đánh nó sau. Nay Viên Đàm và Viên Thượng đều là kẻ gian xảo, vậy nên thừa lúc chúng có nội loạn đánh chúng trước. Viên Đàm dù có xảo trá tới đâu, rốt cục cũng phải bó tay mà thôi. Nay hắn chịu giúp ta đánh bại Viên Thượng, chiếm lấy đất đai, thì đó là điều rất có lợi cho ta.

Thế là Tào Tháo liền chấp nhận lời xin đầu hàng của Viên Đàm, và lập tức ra binh để cứu viện. Nhằm tiến lên một bước lung lạc Viên Đàm. Vào tháng mười năm đó, Tào Tháo đưa quân đến ngay Lê Dương, lại còn cùng Viên Đàm kết thành thân gia. Viên Thượng biết tin Tào Tháo đưa binh vượt sông Hoàng Hà tiến về phía Bắc, hốt hoảng tháo bỏ vòng vây Bình Nguyên, lui về giữ Nghiệp Thành.

Tháng hai năm thứ chín niên hiệu Kiến an (công nguyên 204), Viên Thượng lại ra quân tấn công Viên Đàm để Tô Do, Thẩm Phối ở lại giữ Nghiệp Thành. Tào Tháo thừa cơ ra quân tiến đến Hoàn Thủy, Tô Do dẫn binh sĩ dưới tay chạy ra dầu hàng. Tào Tháo liền đánh thốc vào Nghiệp Thành. Thẩm Phối đóng cửa thành cố thủ không ra. Quân Tào ra sức tấn công Nghiệp Thành, đắp núi đất, đào địa đạo, dùng đủ cách mà vẫn không hạ được.

Đến tháng tư, Tào Tháo để Tào Hồng chỉ huy quân đội tiếp tục tấn công Nghiệp Thành, còn riêng mình thì chỉ huy một cánh quân khác đi tảo thanh xung quanh thành này. Trước tiên, Tào Tháo chiếm được Doãn Khải, Từ Cốc, bức hàng Hàn Phạm, Lương Kỳ.

Đến tháng năm, quân Tào đào chung quanh Nghiệp Thành một con kênh dài bốn mươi dặm, sâu rộng hai trượng, dẫn nước Chương Thủy vào kênh, để làm một vành đai bao vây Nghiệp Thành.

Nghiệp Thành bị bao vây bốn tháng, trong thành hết lương thực, quá nửa bá tánh ở trong thành bị chết đói. Đến tháng bảy, Viên Thượng dẫn chủ lực một vạn người trở về cứu nguy cho Nghiệp Thành. Tướng lĩnh thủ hạ của Tào Tháo đều cho rằng : Đây là một đạo binh kéo về sào huyệt, mỗi người đều có sức chiến đấu rất cao, vậy chi bằng nên tránh họ là hơn.

Tào Tháo nói :

– Viên Thượng nếu theo đường lớn trở về thì ta nên tránh nhuệ khí của hắn. Trái lại, nếu hắn men theo đường Tây Sơn mà về, thì có thể bắt sống tất cả chúng được.

Rốt cục, Viên Thượng quả đã xua quân theo đường Tây Sơn đến, và đã hạ trại tại bờ sông Phủ Thủy, gặp phục binh của Tào Tháo đánh bại. Viên Thượng dẫn tàn binh chạy về Kỳ Sơn, rồi lại trốn đến Trung Sơn. Viên Thượng bị bại trận liên tiếp, cuối cùng phải dẫn tàn binh chạy đến U Châu để nương nhờ người anh kế là Viên Khang.

Đến tháng tám, đứa cháu của Thẩm Phối là Thẩm Vinh có nhiệm vụ phòng thủ cửa đông của Nghiệp Thành, nhân đêm khuya đã mở toang cửa thành để nghênh đón quân Tào. Nghiệp Thành do đó bị hạ. Thẩm Phối bị đem xử tử.

Trong khi quân Tào Tháo vây đánh Nghiệp Thành, thì Viên Đàm đã thừa cơ chiếm nhiều địa phương tại vùng Hà Bắc. Sau khi hạ được Nghiệp Thành, Tào Tháo bèn xua quân Bắc tiến, tấn công Viên Đàm. Qua những trận đầu, Viên Đàm đều thất lợi, phải lui về giữ Nam Bì (nay là phía Đông Bắc huyện Nam Bì, tỉnh Hà Bắc). Tháng giêng năm thứ mười niên hiệu Kiến An (công nguyên 205), quân Tào Tháo bất chấp trời đang giá rét, tiến quân xuất kích. Chỉ trong một trận dã hạ được Nam Bì, xử tử Viên Đàm, Quách Đồ. Đến đây thì hai châu Ký, Thanh đều bị Tào Tháo chiếm lĩnh. Kế đó, Tào Tháo lại xua quân Bắc tiến chiếm U Châu của Viên Khang, Viên Thượng. Hai anh em họ Viên đã trở thành kinh cung chi điểu, nghe tin vội vàng bỏ trốn đến Ô Hoàn ở phía Tây. U Châu do vậy đã rơi vào tay Tào Tháo. Những mưu hoạch tài tình của Quách Gia để tiêu diệt hai anh em họ Viên, đến đây đã được thực hiện toàn bộ.

Sau khi Tào Tháo đánh chiếm được Ký Châu, Quách Gia bèn kiến nghị Tào Tháo nên triệu kiến tất cả những danh sĩ có tên tuổi tại địa phương, và bố trí quan chức cho họ để tạo sự ổn định và niềm tin. Hành động này, đã huy động tính tích cực của tất cả những nhân sĩ ở châu Thanh, Ký, U, có lợi cho việc củng cố quyền thống trị của Tào Tháo ở phía Bắc. Có thể nói đó là một mưu lược nhằm củng cố nền tảng một cách sâu xa.

Tháng hai năm thứ mười hai niên hiệu Kiến An (công nguyên 207), Tào Thán cử hành lễ đại phong cho ngoài hai mươi đại công thần tại Nghiệp Thành. Tất cả những người này đều được phong hầu. Trong số đó có Quách Gia là người trong quá trình chiến đấu thảo phạt hai anh em họ Viên, đề xuất nhiều mưu lược hay, lập được đại công, nên được phong làm Vỹ Dương Đình Hầu.

Sau khi Tào Tháo bình định được Hà Bắc, thì việc cấp bách nhất là việc thảo phạt Ô Hoàn.

Ô Hoàn là một dân tộc thiểu số chuyên nghề du mục, săn bắn, ở phía Bắc nước Trung Quốc. Đầu những năm Đông Hán, nơi sinh sống của họ là ở phía Tây Liêu Ninh và phía Đông Bắc Hà Bắc. Cuối đời Đông Hán, thế lực của Ô Hoàn ngày một mạnh lên, nhất là Thiền Vu Thạp Đột ở Liêu Tây là mạnh mẽ nhất. Cuối đời Hán, kỵ binh Ô Hoàn nổi tiếng trong thiên hạ. Nhiều thủ lãnh của các tập đoàn quân sự ở phía Bắc đều phải nương tựa vào họ. Viên Thiệu khi còn sống, có mối liên quan mật thiết với Ô Hoàn Tam Quận. Sau khi đánh bại Công Tôn Toản, Viên Thiệu đã mượn danh nghĩa Hán Hiến Đế, phong cho Thạp Đột làm Thiền Vu Ô Hoàn. Sau khi Viên Thiệu chết, Ô Hoàn Tam Quận tiếp tục cấu kết với họ Viên để cùng nhau hoành hành. Năm thứ mười niên hiệu Kiến An (công nguyên 205), Viên Thượng, Viên Khang, chạy vào Ô Hoàn hy vọng dựa vào lực lượng của Ô Hoàn giúp đỡ để chống lại Tào Tháo. Chính vì vậy, Thạp Đột đã nhiều lần đưa quân vào quây nhiễu Hán Quận, và xung đột trực tiếp với quân Tào. Họ muốn giúp đỡ họ Viên khôi phục lại cơ nghiệp cũ. Để triệt để tiêu diệt thế lực tàn dư của họ Viên, thống nhất miền Bắc, Tào Tháo chuẩn bị viễn chinh Ô Hoàn.

Viễn chinh Ô Hoàn không phải là một công việc đơn giản. Lúc bấy giờ Lưu Bị đang nương tựa Lưu Biểu ở Kinh Châu, luôn luôn khuyên Lưu Biểu nên xua quân đánh Tào Tháo. Nếu Lưu Biểu nhân cơ hội quân Tào kéo đi đánh Ô Hoàn, xua quân tập kích Hứa Xương vốn đang phòng thủ lỏng lẻo, thì hậu quả thực không sao tưởng tượng nổi.

Đối với việc này, Tào Tháo tỏ ra thận trọng. Bèn triệu tập hết văn võ đại thần ở dưới tay mình cùng họp bàn đối sách. Các tướng đều không tán thành việc cử binh đi viễn chinh Ô Hoàn. Họ cho rằng : “Anh em họ Viên chẳng qua là một bọn người bỏ trốn, thực sự không đáng lo. Riêng người Di Địch thì có tánh tham, nhưng không có thân tình. Vậy, Ô Hoàn làm sao trở thành lực lượng để cho Viên Thượng sử dụng được ? Nếu đại quân kéo đi viễn chinh, thâm nhập sâu vào địa khu của Ô Hoàn, Lưu Bị tất nhiên sẽ khuyên Lưu Biểu ở Kinh Châu thừa cơ tập kích Hứa Đô. Vạn nhất xảy ra sự cố, đến chừng đó dù hối hận cũng không còn kịp nữa”.

Trong khi mọi người nhao nhao phản đối, thì Quách Gia đã bác bỏ mọi ý kiến trên, cực lực tán thành việc viễn chinh Ô Hoàn. Ông nói với Tào Tháo :

– Chúa Công tuy là người oai danh rung chuyển cả thiên hạ, nhưng Ô Hoàn ỷ mình nằm ở một vị trí xa xôi hẻo lánh, tất nhiên là không có sự đề phòng. Thừa cơ hội không chuẩn bị trước, bất thần tập kích họ thì nhất định sẽ thủ thắng dễ dàng. Hơn nữa, Viên Thiệu khi sinh tiền, thường ban ơn cho quân quan và bá tánh ở Hà Bắc cũng như ở Ô Hoàn. Nay Viên Thượng, Viên Khang vằn còn sống ở đấy, vậy ảnh hưởng của họ không thể đánh giá thấp. Đồng thời, bá tánh ở bốn châu Thanh, Ký, U, Tính, mặc dù hiện nay đều tỏ ra quy phục chúng ta, nhưng sự quy phục đó chẳng qua là vì sợ uy lực, còn bản thân chúng ta thì chưa ban ân gì cho họ cả. Nếu ta buông lỏng công việc bắc phạt để tiến hành cuộc nam chinh thì Viên Thượng sẽ dựa vào sự giúp đỡ của Ô Hoàn, triệu tập đồng đảng cũ của họ Viên, rồi thừa cơ phản công lại chúng ta. Một khi Ô Hoàn nổi dậy, thì người Hán ở Hà Bắc sẽ đua nhau đứng lên hưởng ứng. Riêng Thạp Đột cũng sẽ nhân cơ hội đó thực hiện dã tâm xâm chiếm đất đai. Đến chừng đó e rằng Thanh Châu, Ký Châu sẽ không phải là đất của ta nữa. Riêng Lưu Biểu ở Kinh Châu, chẳng qua là một nhà chính trị chuyên nói suông. Bản thân ông ta không có tài năng bằng Lưu Bị, khó chống chế được Lưu Bị. Cho nên nếu ông ta trọng dụng Lưu Bị, thì sợ Lưu Bị sẽ vượt ra ngoài sự khống chế của mình. Trái lại, nếu không trọng dụng Lưu Bị, thì Lưu Bị nào thực lòng góp sức với ông ta. Cho nên giữa họ có mối quan hệ phức tạp và tế nhị, khiến họ không thể có những hành động quan trọng đáng kể. Cho nên chúng ta dù dốc hết toàn lực binh mã trong nước đi viễn chinh, Lưu Biểu cũng không có nhưng hành động gì quan trọng. Vậy xin Tào công đừng lo ngại đối với việc đó.

Quách Gia đã phân tích chỉ rõ tính tất yếu, tính khả năng, và tính ăn chắc trong vấn đề viễn chinh Ô Hoàn, khiến Tào Tháo định được lòng tin. Nhất là ông phân tích cho thấy Lưu Biểu ở Kinh Châu, không thể tạo thành sự uy hiếp nào đáng kể, nên tập đoàn văn võ đại thần của Tào Tháo nghe qua như trút được phiến đá đè nặng trong lòng. Tháng hai năm thứ mười hai niên hiệu Kiến An, Tào Tháo bắt đầu cử binh đi viễn chinh ở phía Bắc.

Tháng năm, đại quân đến Dịch Huyện (nay là địa phương nằm về phía Tây Bắc Hùng Huyện, Hà Bắc). Quách Gia bèn đề xuất chiến thuật và sách lược cụ thể để chiến thắng Ô Hoàn. Ông nhận thấy quân Tào đi rất chậm chạp, bèn kiến nghị ngay với Tào Tháo :

– Binh quý thần tốc! Hiện nay chúng ta lặn lội nghìn dặm để tập kích kẻ thù, thế mà xe cộ nặng nề quá nhiều, hành động quá chậm chạp, e rằng sẽ khó đoạt được thắng lợi. Hơn nữa quân địch một khi hay tin tất nhiên sẽ có chuẩn bị đối phó. Vậy chi bằng hãy bỏ những xe chuyên chở nặng nề ở lại, chọn toàn khinh kỵ đi bất kể ngày đêm, để tập kích vào lúc kẻ địch không phòng bị.

Tào Tháo nghe qua, bèn chấp thuận kiến nghị trên. Quân Tào chỉ chọn toàn khinh binh để hành quân, và đi theo những con đường nhỏ mà Ô Hoàn buông lơi sự phòng bị, lén vượt qua Lư Long Tắc (nay là Hỷ Phong Khẩu, tỉnh Hà Bắc), lại vượt qua Bạch Đàn (nay là Khoan Thành, tỉnh Hà Bắc) và Bình Cương (nay là Bình Tuyền, tỉnh Hà Bắc) rồi lại xuyên qua Tiên Bi Đình, chọc thẳng vào Liễu Thành (nay là địa phương nằm ở phía nam Triều Dương, tỉnh Liêu Ninh).

Khi quân Tào đến Bạch Lang Đôi, vì còn cách đại bản doanh của Thạp Đột ở Liễu Thành chỉ ngoài hai trăm dặm, nên Ô Hoàn đã phát hiện. Thạp Đột và anh em Viên Thượng, cùng với Thiền Vu Lâu Bang ở Liêu Tây, Thiền Vu Ô Diên ở Hưu Bắc Bình, dẫn mấy vạn kỵ binh ào tới chặn đánh,

Tào Tháo lên núi Bạch Lang Sơn quan sát thấy binh mã của đôi bên đang xung phong chém giết, mặc dù binh sĩ của Tào Tháo đều trang bị nhẹ, số lượng cũng ít hơn. Nhưng khi họ kéo tới đây là đã có sự chuẩn bị về tinh thần. Trái lại, kỵ binh của Ô Hoàn xem như rất hung tợn, sĩ khí rất cao, nhưng do ứng chiến quá hấp tấp, nên quân tâm không khỏi mất ổn định. Tào Tháo ra lệnh cho Trương Liêu làm tiên phong, phóng tay xuất kích, khiến các cánh quân của địch phối hợp không ăn ý nhau, bị đánh rối loạn cả hàng ngũ, và cuối cùng bị thảm bại. Thiền Vu Thạp Đột bị giết binh sĩ của Ô Hoàn cũng như binh sĩ người Hán chết và hàng trên hai chục vạn.

Hai anh em Viên Thượng và Viên Khang cũng như Thiền Vu Tốc Phóc Hoàn ở Liêu Đông, sau khi bị chiến bại, bèn dẫn mấy nghìn kỵ binh chạy sang Công Tôn Khang ở Liêu Đông. Các bộ tướng của Tào Tháo đều yêu cầu lập tức phát binh để truy kích. Nhưng Tào Tháo nói :

– Cần chi phải ra quân ? Ta chờ Công Tôn Khang đem thủ cấp của hai anh em họ Viên đưa đến đây.

Quả nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, Công Tôn Khang đã đưa thủ cấp của Viên Thượng và Viên Khang đến.

Thì ra, Viên Thượng và đồng bọn sau khi đến Liêu Đông đã có ý đồ cướp đoạt binh mã của Công Tôn Khang. Viên Thượng là người có sức mạnh, nên nói với Viên Khang:

– Từ nay trở đi, nếu Công Tôn Khang tới tương kiến thì anh em mình phải bắt hắn giết ngay để chiếm cứ Liêu Đông, thì mới mong khôi phục được cơ nghiệp cũ.

Không dè Công Tôn Khang cũng tính toán như họ : “Giờ đây không giết Viên Khang, Viên Thượng, thì làm sao ăn nói với đất nước? Thế là, ông bèn cho mai phục sẵn tại Mã Phong nhiều binh sĩ tinh nhuệ, khỏe mạnh, rồi mới phái người đi mời anh em họ Viên. Khi anh em Viên Thượng đến nơi, thì phục binh ào ra bắt hai người trói ngay lại, đem bỏ ngoài trời lạnh. Đến chừng đó mà Viên Thượng còn bảo Công Tôn Khang mang chiếu ra cho mình, vì lạnh quá chịu không nổi. Viên Khang nghe thế bèn thở dài, nói :

– Đầu ta còn phải mang đi xa nghìn dặm, vậy làm sao có chiếu được ?

Anh em họ Viên bị chém đầu, rồi lấy thủ cấp đưa đến cho Tào Tháo. Đến đây thì xem như Tào Tháo đã cơ bản thống nhất được cả miền Bắc.

Trong cuộc chiến tranh chinh phạt Ô Hoàn, ban đầu Quách Gia đã bác bỏ những lời bàn tán của số đông, phân tích tình thế trong thiên hạ, có một kiến giải sâu sắc và độc đáo, khiến mọi người ai ai cũng tâm phục, nhất là đã củng cố niềm tin cho Tào Tháo để quyết định cuộc chiến viễn chinh. Sau khi xuất chinh, Quách Gia đã kịp thời đề xuất chủ trương “binh quý thần tốc”, dùng khinh binh để tiến nhanh, đánh cho địch không kịp trở tay. Giúp cho cuộc viễn chinh này nhanh chóng thu được thắng lợi toàn diện. Rốt cục hai anh em họ Viên đã bị giết.

Trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, đã quy công cho Quách Gia đối với sự thắng lợi trong cuộc viễn chinh nói trên. Hồi thứ 33 viết : “Bây giờ Tào Tháo án binh bất động tại Dịch Châu. Hạ Hầu Đôn, Trương Liêu vào bẩm rằng : “Nếu không đánh Liêu Đông thì có thể trở về Hứa Đô, vì e rằng Lưu Biểu sẽ sinh tâm chăng”. Tháo đáp : “Chờ nhận thủ cấp của hai anh em họ Viên thì sẽ rút quân”. Mọi người đều cười thầm, bỗng có tin báo Công Tôn Khang ở Liêu Đông phái người đưa thủ cấp viên Viên Khang và Viên Thượng đến, mọi người cả kinh. Sứ giả trình lên một bức thư, Tào Tháo cười to nói : “Quả không ngoài tiên liệu của Phụng Hiếu”… Các quan đều lên tiếng hỏi : “Tại sao lại không ngoài tiên liệu của Phụng Hiếu !”. Tào Tháo bèn đưa lá thư của Quách Gia ra. Bức thư đại khái nói :

“Nay nghe tin Viên Khang, Viên Thượng đã chạy sang đầu Liêu Đông. Minh Công chớ vội ra quân. Công Tôn Khang lâu nay sợ họ Viên thôn tính mình, nên đối với anh em họ Viên có lòng nghi ngờ. Nếu ta xuất binh đánh họ, thì họ sẽ dốc hết sức ra nghênh địch, không thể hạ được nhanh chóng. Trái lại, nếu ta chậm trễ, thì Công Tôn Khang và anh em họ Viên sẽ mưu đồ giết hại lẫn nhau. Đó là thế tất nhiên vậy.”

Mọi người nghe qua đều nhảy nhót khen tuyệt. Trong quyển tiểu thuyết này bản Quách Gia chết và để lại bức thư trên cho Tào Tháo, nhằm làm nổi bật việc “Quách Gia để di kế lại bình định Liêu Đông”. Tất nhiên, đó là sự sắp xếp của nhà viết tiểu thuyết, còn chính sử thì không nói rõ đấy là mưu kế của Quách Gia. Tuy nhiên, mưu kế trong bức di thư này, hoàn toàn giống hệt với mưu kế của Quách Gia trước đây. Đã tạo điều kiện cho anh em Viên Thượng và Viên Đàm đánh nhau. Về sau Tào Tháo dâng biểu lên Hán Hiến Đế, trong tờ biểu có nói : ” Việc bình định Ô Hoàn, làm chấn động cả Liêu Đông, giết chết cả tên cầm đầu là Viên Thượng công đó thực ra là của Quách Gia”. Do vậy, nếu bảo là di kế của Quách Gia, cũng là chuyện có thể.

Tóm lại, trong cuộc chiến đấu viễn chinh Ô Hoàn, Quách Gia từ đầu chí cuối đã phát huy một tác dụng tham mưu hết sức tài tình, giúp Tào Tháo hoàn thành sự nghiệp lớn là thống nhất cả miền Bắc.

 Trên đường tiến quân viễn chinh Ô Hoàn, Quách Gia do không hợp thủy thổ nên đã ngã bệnh nằm trên xe. Đến khi ông theo Tào Tháo viễn chinh trở về, lại do làm việc quá mệt nhọc, bệnh tình càng nặng hơn. Tào Tháo luôn phái người đến chăm sóc cho Quách Gia, tỏ ra lo lắng và chu đáo, nhưng không ngờ, vị mưu sĩ tài hoa đang thời trẻ trung này, do bệnh quá nặng nên đã giã từ cỏi đời vào cuối năm thứ mười hai niên hiệu Kiến An (công nguyên 207).

Lúc Quách Gia chết, chỉ mới ba mươi tám tuổi, chính là cái tuổi đang sung sức, khiến mọi người đều hết sức thương tiếc. Sau khi ông qua đời, Tào Tháo đích thân đến điếu tang, và tỏ ra hết sức đau lòng. Vì đối với triều đình bị mất đi một đại thần quan trọng, đối với cá nhân bị mất đi một người phụ tá tài ba”, cho nên Tào Tháo đã buột miệng kêu lên :

– Buồn thay Phụng Hiếu ! Đau thay Phụng Hiếu ! Tiếc thay Phụng Hiếu !

Sở dĩ Tào Tháo thương tiếc và đau đớn như vậy, cũng không có gì lấy làm lạ. Vì sau khi viễn chinh Ô Hoàn thắng lợi trở về, Tào Tháo hết sức vui mừng, và đang chuẩn bị xua quân tiến xuống phía Nam để quét sạch các thế lực đối đầu, thống nhất cả nước Trung Quốc, đang cần tới một người mưu thần, một “túi khôn” có thể ngồi trong quân trướng mà tính toán kế mưu giành thắng lợi ngoài xa nghìn dặm như Quách Gia. Thế mà Quách Gia lại ra đi trong thời điểm đó, quả là một sự tổn thất nặng nề đối với sự nghiệp to lớn của Tào Tháo. Trận đánh Xích Bích sau này, là một thất bại nặng nề về các mặt chánh trị và quân sự trong cuộc đời nhung mã của Tào Tháo, lại xảy ra trong khi Quách Gia vừa tạ thế chẳng bao lâu. Chính vì không có một người phụ tá tài ba để cùng bàn về mưu lược, nên sự thất bại đó mới xảy đến. Thảo nào Tào Tháo đã đau đớn than rằng : “Nếu Quách Phụng Hiếu còn sống, thì cô gia không đến đỗi như thế này ?”.

Sau khi Quách Gia chết, Tào Tháo đau đớn nói với Tuân Du và những mưu thần ở bên cạnh:

– Các ngài tuổi tác đều suýt soát với tôi, duy chỉ có Quách Phụng Hiếu là nhỏ nhất. Tôi chuẩn bị sau khi chiến loạn được bình định xong, sẽ phó thác mọi việc sau này cho ông ấy. Nhưng, không ngờ ông ấy với tuổi trung niên lại yểu tử. Chả lẽ đấy là số mạng đã định như thế hay sao.

Trong bức thư gởi cho Tuân Vực, Tào Tháo lại tưởng nhớ tới Quách Gia, nói “Quách Phụng Hiếu tuổi chưa đầy bốn mươi, cùng sống và làm việc bên cạnh tôi mười một năm qua, không ngại gian nan hiểm trở từng cùng mọi người chia ngọt xẻ bùi. Quách Gia là người thông tình đạt lý, phân tích thế sự chính xác rõ ràng, nên tôi muốn đem chuyện sau này phó thác cho Quách Gia, nhưng không ngờ ông ấy lại ra đi trước tôi, thực khiến cho ai cũng phải hết sức đau lòng. Quách Phụng Hiếu là người hiểu tôi nhất. Người trong thiên hạ biết nhau không có nhiều. Do vậy, tôi càng thương tiếc hơn. Nhưng, còn có cách nào cứu vãn được ?”

Tào Tháo không chỉ một lần bày tỏ ý muốn phó thác mọi việc sau này cho Quách Gia. Qua đó đủ thấy, Tào Tháo đối với Quách Gia trọng thị và tin cậy đến mức độ nào. Tào Tháo lại dâng biểu cho Hán Hiến Đế, yêu cầu truy tặng phong thưởng cho Quách Gia. Trong tờ biểu văn có nói : “Cố Quân Tế Tửu Vỹ Dương Đình Hầu Quách Gia, là người trung trinh lương thiện, trí cao đức đẹp, thông tình đạt lý, cứ mỗi khi gặp việc lớn, mọi người tranh cãi mỗi ý mỗi khác nhau, thì ông chỉ nói một lời là đã giải quyết mọi việc đâu ra đó, và mọi kế sách của ông không bao giờ có chỗ sai sót. Kể từ ngày đi vào quân lữ, theo thần đông chinh bắc phạt mười một năm, lập được nhiều công huân lớn, như bắt sống Lữ Bố, chiếm Tuy Cố, trảm Viên Đàm, bình định Hà Bắc, vượt qua núi non hiểm trở để bình định Ô Hoàn, oai danh rung chuyển cả vùng Liêu Đông. Ông còn tiêu diệt Viên Thượng, công lao không ai sánh bằng. Trong khi thần chuẩn bị biểu dương công huân của ông, thì ông lại chết quá sớm. Khi nhớ lại công của Quách Gia, ai ai cũng không sao quên được. Vậy cần phong thêm thực ấp cho đủ một nghìn hộ, để biểu dương người đã chết, cổ xúy người đời sau”.

Đối với lòng trung thành và tài năng của Quách Gia, Tào Tháo đã tán dương một cách đầy nhiệt tình. Đối với việc Quách Gia chết sớm, Tào Tháo tỏ ra vô cùng thương tiếc. Hán Hiến Đế sau khi đọc xong tờ biểu, liền truy tặng thụy hiệu cho Qưách Gia là Trinh Hầu.

Trong tập đoàn “túi khôn” của Tào Tháo, Quách Gia là người trẻ tuổi lại hoạt động sôi nổi nhất. Tào Tháo bảo ông là người “thấu tình đạt lý”, như vậy là Tào Tháo rất biết người. Quách Gia đúng là một con người có tính tình cởi mở, hào phóng, thậm chí không câu nệ tiểu tiết. Trần Quần từng nhiều lần nói với Tào Tháo, Quách Gia “không chú ý sửa đổi hạnh kiểm”, nhưng Quách Gia vẫn không để ý tới, vẫn “sống một cách tự nhiên”. Do vậy, Tào Tháo lại càng nể trọng ông hơn nữa. Quách Gia là một con người tài hoa tuyệt vời, lại không câu nệ tiểu tiết, vậy đáng lý ra có nhiều người oán trách ông, nhưng trong sự thật thì trái ngược lại. Điều đó chủ yếu là Quách Gia giỏi xử lý những mối quan hệ giữa con người và con người, luôn sống hòa thuận người chung quanh, vinh nhục cùng chia sẻ. Nhất là mối quan hệ với vị chủ soái là Tào Tháo, Quách Gia luôn tỏ ra hòa hợp, thân mật đến mức “đi thì chung xe, ngồi thì chung chiếu”, được Tào Tháo xem là tri kỷ. Cùng làm việc chung với một con người có quyền thế, có mưu lược như Tào Tháo, lúc nào cũng tiềm ẩn một sự nguy hiểm đối với mình cả. Vì “gần vua như gần cọp” là câu nói không phải ngoa. Đã có bao danh thần mưu sĩ chết dưới lưỡi đao của Tào Tháo rồi. Trong khi đó, thì mối quan hệ giữa Quách Gia và Tào Tháo lại hoàn toàn hòa hợp với nhau. Điều đó một mặt có thể do Quách Gia đối với sự nghiệp của Tào Tháo là rất cần thiết, mặt khác có thể do cách giải quyết những mối quan hệ giữa con người của Quách Gia, bao giờ cũng tròn trịa, khôn khéo. Điều đó chứng tỏ ông tuy là một mưu lược gia kiệt xuất, nhưng cũng có sự khôn khéo khác trong cuộc sống. Điều khiến Tào Tháo luôn thương nhớ tới Quách Gia, không ngoài do ông vừa có tài năng lại vừa có lòng trung thành. Kể từ khi ông rời bỏ doanh trại của Viên Thiệu chạy sang doanh trại của Tào Tháo, bao giờ cũng trung thành với tập đoàn của họ Tào. Điều đó ai ai cũng thấy. Do vậy, Tào Tháo bao giờ cũng ghi nhớ mãi mãi lòng trung thành và tài năng xuất chúng của ông, gọi ông là người “trung hậu”, lúc nào cũng muốn lập công, không kể chi tới mạng sống. Đối với con người như vậy, có ai quên được bao giờ ?. Chỉ riêng trí mưu và tài năng của Quách Gia, cũng đủ làm cho Tào Tháo hết lòng ngưỡng mộ. Tào Tháo bảo Quách Gia là “khi nghĩ mưu lược thì không bao giờ có sai sót”, “gặp có cuộc họp bàn rộng rãi hoặc đứng trước kẻ đại địch cần ứng biến, thần chưa kịp có quyết đình gì thì Quách Gia đã nghĩ ra cách đối phó trước. Trong việc bình định thiên hạ, có nhiều mưa trí, công lao rất to”. Tào Tháo lại bảo Quách Gia “Người này có tầm quan sát và nhận xét về việc binh sự, giỏi hơn tất cả mọi người”. Có thể làm cho Tào Tháo, một người được đánh giá là “phi thường hơn tất cả mọi người”, không tiếc lời tán thưởng, đủ thấy trí mưu của Quách Gia là hơn hẳn mọi người khác. Lòng trung thành và tài năng của Quách Gia, chẳng những làm cho Tào Tháo khâm phục, mà cũng để lại cho người hậu thế những ấn tượng rất sâu sắc.

Quách Gia đảm nhận việc tính toán mưu kế cho Tào Tháo suốt mười một năm, có công lao siêu việt đối với sự nghiệp phát triển và thống nhất vùng đất miền Bắc của tập đoàn họ Tào, đồng thời, cũng đã đóng góp công sức quan trọng cho sự phát triển cửa lịch sử nói chung. Quách Gia tuổi trẻ tài cao, chẳng những sáng suốt lựa chọn người xứng đáng để phục vụ, mà còn có thể nhìn xuyên suốt tình hình trong khắp thiên hạ, biết người biết ta, có dự kiến xuất sắc đối với những diễn biến của tình hình. Ông còn giỏi lợi dụng mâu thuẫn, biết cách “chỉ huy” kẻ thù. Trong đầu óc ông luôn có những mưu kế tuyệt diệu, và còn có đôi mắt nhìn xa thấy rộng, ý thức chiến lược rất cao siêu. Ông chẳng những là một vị phụ tá có kỳ tài, một vị tham mưu cao cấp dưới trướng của Tào Tháo trong đời Đông Hán, mà còn do ông có nghệ thuật cao siêu trong vấn đề đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, đã đóng góp đáng kể vào kho tàng trí tuệ quý giá trong thời cổ đại của nước Trung Quốc qua nhiều nội dung phong phú.

Sau cùng, chúng ta nên lấy bài thơ ca ngợi Quách Gia trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, để kết thúc bài viết này. Thơ rằng :

Thiên sinh Quách Phụng Hiếu,

Hào kiệt quán quần anh.

Phúc nội tàng kinh sử,

Hung trung ẩn giáp binh.

Vận mưu như Phạm Lãi,

Quyết sách tự Trần Bình.

Khả tích thân tiên táng,

Trung Nguyên lương đống khuynh.

Dịch :

Trời sinh Quách Phụng Hiếu,

Hào kiệt đứng hàng đầu.

Bụng chứa đầy kinh sử,

Giáp binh tiềm ẩn sâu.

Ra mưu như Phạm Lãi,

Quyết sách tự Trần Bình.

Đáng tiếc chết quá sớm,

Rường cột Trung Nguyên chinh.


(creation.vn)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s