Love Story- Chuyện Tình Yêu 

phim-love-story

Từ khi ra đời, “Love Story” (1970) vẫn ăn sâu trong tâm trí nhiều thế hệ khán giả bởi một chuyện tình xúc động trên màn ảnh, một giai điệu nhạc phim bất hủ, và một câu thoại kinh điển đã trở thành chân lý: “Love means never having to say you’re sorry / Yêu nghĩa là không bao giờ phải nói lời hối tiếc”.

“Love Story” là bộ phim tiêu biểu cho những người dám đấu tranh cho tình yêu đích thực của mình để giành lấy hạnh phúc. Và rồi họ sẽ không phải cảm thấy hối tiếc vì bản thân đã sống thật với lý lẽ con tim mình.

*
Để tạo ra “Chuyện Tình” thuộc hàng kinh điển này cũng có rất nhiều những “câu chuyện” thú vị xung quanh.

– Lúc đầu, nhà biên kịch Erich Segal chào bán kịch bản phim của mình với hãng Paramount Pictures. Khi phim đang đi vào sản xuất, để PR cho bộ phim sắp phát hành, hãng Paramount đề nghị Segal phát triển kịch bản thành một cuốn tiểu thuyết, phát hành trước vào ngày Valentine (14/2/1970). Cuốn tiểu thuyết sau khi phát hành lập tức trở thành quyển sách bán chạy nhất lúc bấy giờ (bestseller), được dịch ra hơn 20 thứ tiếng, tạo riêng một thành công lớn trước khi phim khi ra rạp vào cuối năm này (12/1970). Từ bệ phóng đó, phim đã đạt doanh thu cao nhất trong năm 1970. Sau khi phát hành ra toàn cầu, bộ phim có chi phí sản xuất $2.2triệu này đã thu về hơn $136triệu.

– Ngược lại với thành công trước phim của cuốn tiểu thuyết, bản nhạc phim “Love Story” lại đạt thành công lớn sau khi phim công chiếu, trở thành một trong những bản nhạc phim đáng nhớ nhất mọi thời đại. Đây là một bản nhạc Pháp (Une histoire d’amour) do nhạc sĩ Francis Lai sáng tác, có giai điệu ngân nga trầm buồn.

Sau khi bộ phim công chiếu và thu được thành công lớn, một phần rất lớn nhờ vào giai điệu nhạc phim tuyệt đẹp, nhạc sĩ người Mỹ Carl Sigman đã đặt lời trên nền nhạc này. Ca khúc “Where Do I Begin?” ra đời từ đó, với bản thu âm đầu tiên của Shirley Bassey ở Anh. Tiếp sau đó, phiên bản của Mỹ bởi danh ca Andy Williams đã nhảy vọt lên hạng đầu thị trường nhạc nhẹ Hoa Kỳ, để rồi ngự trị trên đỉnh cao trong vòng 4 tuần lễ liên tục kể từ ngày 20/3/1971. Bài hát này từ đó đến nay đã đi vòng quanh Thế giới với gần 800 phiên bản, ghi âm bằng 25 thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt (do nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời).

Nhạc phẩm này đã vượt ra khỏi ranh giới nhạc phim để trở thành một tác phẩm âm nhạc độc lập, có sức sống mạnh mẽ trong lịch sử âm nhạc thế giới; đến nỗi nhiều người không còn nhớ tựa đề “Where do I begin” mà luôn gọi đó là bài “Love Story”. Khi nghe những nốt nhạc dạo đầu trỗi lên, có lẽ mọi người đều nhận ra ngay giai điệu nhẹ nhàng lãng mạn, miên man dịu dàng, gieo vào hồn người một chút cảm giác bâng khuâng, một thời xao xuyến rung động, khiến cho tâm hồn thoáng buồn.

– Trong số 7 đề cử Oscar 1971 mà “Love Story” nhận được (Phim Hay Nhất, Đạo diễn Xuất Sắc Nhất – Arthur Hiller, Kịch bản gốc XSN, Nam Diễn viên chính XSN, Nữ Diễn viên chính XSN, Nam Diễn viên phụ XSN, Nhạc phim Hay Nhất), cuối cùng chỉ có một mình bản nhạc phim đem về tượng vàng.

Lý giải cho thất bại ở 6 hạng mục còn lại, có thể thấy rằng tuy phim tạo ra nhiều xúc cảm cho khán giả, nhưng chuyện phim không sâu, kịch tính và cao trào được xử lý đơn giản, các nhân vật cũng chỉ để lại ấn tượng về sự trong sáng, mong manh và thiếu đi những điểm nhấn quyết liệt. Vì thế, câu chuyện tình yêu đẫm nước mắt này chỉ dừng lại ở mức “lâng lâng”, nhẹ nhàng buồn thương tiếc nuối một mối tình đẹp và dang dở. Phim có thể khiến khán giả thổn thức chứ chưa đẩy cảm xúc của người xem tới mức trào dâng mạnh mẽ, và tất nhiên chưa đủ để thuyết phục giới phê bình và các nhà chuyên môn trong Viện Hàn lâm Điện ảnh Mỹ vốn hay đòi hỏi những điều đặc biệt hơn là một chuyện tình yêu đẹp đơn thuần (tuy rằng trước Oscar, phim đã đoạt tới 5 giải Quả Cầu Vàng trên 7 đề cử).

– Câu nói nổi tiếng nhất: “Love means never having to say you’re sorry / Yêu nghĩa là không bao giờ phải nói lời hối tiếc” thực ra là một lỗi của diễn viên khi nói sai trong kịch bản lẽ ra phải là “Love means not ever having to say you’re sorry.”

Bên cạnh đó, trong phim còn một đoạn thoại nữa nổi tiếng, cũng được ưa thích và cũng đã đi vào đời sống văn hóa của giới trí thức trẻ thế giới:

“What can you say about a twenty-five-year-old girl who died? That she was beautiful and brilliant. That she loved Mozart and Bach. The Beatles. And me. / Bạn có thể nói gì về một cô gái 25 tuổi, vừa qua đời? Rằng nàng đẹp, thông minh. Rằng nàng thích nhạc của Mozart và Bach. Thích nhạc của The Beatles. Và nàng yêu tôi.”

– “Love Story” được trường Đại học Havard coi trọng như một niềm tự hào, thường đem ra chiếu cho các tân sinh viên mới nhập trường xem. Tuy nhiên trên thực tế, việc làm phim sử dụng các bối cảnh thật trong trường đại học danh tiếng này đã gây tổ hại khá nhiều cho khuôn viên và cơ sở vật chất, khiến cho sau này các lời đề nghị làm phim tại trường của các bộ phim khác thường bị từ chối.

**
{Nội dung phim}

Chuyện phim kể về mối tình của Oliver Barret IV (Ryan O’Neal đóng, sau khi nhiều tên tuổi sau này nổi tiếng như Michael Douglas, Jon Voight hay Jeff Bridges từ chối bất chấp được hứa hẹn chia cho 10% lợi nhuận của phim) và Jennifer Cavilleri (Ali MacGraw vào vai nữ sinh viên này lúc đã 31 tuổi).

Oliver là một sinh viên xuất sắc của trường Harvard danh tiếng, là con nhà danh giá, giàu có của dòng họ Barret; còn Jennifer – một sinh viên cùng trường, là con của một gia đình nghèo, đạt học bổng vào học ở Harvard và là người trông coi thư viện. Một lần đến thư viện trường Radcliffe College mượn sách, chàng bị ấn tượng bởi cô gái có mái tóc đen và đeo cặp kính cận cùng cách nói chuyện có phần ngang bướng. Dần dần, họ yêu nhau nhưng gia đình Oliver không đồng ý, đặc biệt là cha của Oliver. Bất chấp sự ngăn cản này, họ cưới nhau. Tất nhiên là Oliver bị cắt hoàn toàn viện trợ tài chính từ người cha giàu có. Đó là những năm tháng thật khó khăn cho đôi vợ chồng trẻ, khi cả hai vừa phải đi học, vừa phải lo đi làm kiếm sống. Cuối cùng, với tấm bằng tốt nghiệp cao học hạng ưu đại học luật Harvard, cùng với danh tiếng của gia đình, Oliver tìm được một công việc tốt với mức lương rất cao. Giờ đây, họ có thể sống một cuộc sống dư giả và giàu có.

Nhưng tai họa ập tới khi Jennifer mắc bệnh ung thư. Oliver tìm mọi bác sĩ tốt nhất, thuốc tốt nhất để chạy chữa cho nàng, nhưng đều không thành công. Giây phút cuối đời mình, Jennifer nằm trên giường bệnh, bảo Oliver hãy ôm nàng thật chặt và ra đi trong tay chàng. Đó là cảnh phim thật sự rất xúc động. Còn gì đau đớn hơn khi nhìn người vợ yêu của mình từ giã cõi đời, còn mình thì không thể làm gì được cho cô ấy. Khi Oliver ra ngoài, chàng thấy bố mình ở đó. Ông nói lời xin lỗi vì những điều đã xảy ra. Oliver đã ngắt lời cha: “Yêu là không bao giờ phải nói lời hối tiếc” (câu nói Jennifer đã nói với anh trong một lần vợ chồng giận nhau) và bật khóc.

Bi kịch của tình yêu này ở chỗ: hai người yêu nhau nhưng họ không cùng giai cấp. Gia đình của Oliver Barrett thuộc giai cấp thượng lưu còn gia đình của Jennifer Cavilleri lại quá nghèo. Họ bị thử thách giữa tình yêu và sự khó khăn của gia đình, của bệnh tật. Sự thành công của Erich Segal là ông triệt để khai thác sự kỳ thị của cha Oliver Barrett khi một mực bác bỏ việc con trai mình yêu thương người con gái thuộc giai cấp nghèo; cho thấy mặt tối của xã hội Mỹ thế kỷ 20, nơi vẫn tồn tại sự phân biệt giai cấp, sự thủ cựu của giai cấp trên trong quan niệm sống.

***
“Chuyện Tình / Love Story” đứng thứ 9 trong danh sách 100 phim tình cảm lãng mạn hay nhất mọi thời đại theo lựa chọn của Viện phim Mỹ. Bộ phim này thường được các kênh truyền hình khắp thế giới (trong đó có VTC của VN) chọn để chiếu vào mỗi dịp Valentine hàng năm


cinemaddiction

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s