Tình bạn đặc biệt giữa Paul McCartney và John Lennon

173531570_255299966276432_1125829109514964690_n

Ngày 6/7/1957, thời điểm John Lennon gặp Paul McCartney, đã đi vào lịch sử, gợi cảm hứng cho nhiều trang web, cuốn sách và cả những bức tranh. Đây được coi là một trong những mốc thời gian quan trọng nhất của lịch sử âm nhạc.

Thường nếu không phải với tình yêu nam nữ, người ta không quan trọng hóa về ngày gặp gỡ đến vậy. Paul McCartney gặp John Lennon khi cả hai đang là những cậu thiếu niên. Đó là tháng 7/1957 ở vùng ngoại ô Woolton của thành phố cảng Liverpool của nước Anh.

Anh bạn chung Ivan Vaughan đã giới thiệu Paul, 15 tuổi, với John, 17 tuổi, người khi đó là ca sĩ chính kiêm thủ lĩnh ban nhạc The Quarrymen.

Paul gây ấn tượng với John ngay tức khắc khi biểu diễn xuất sắc ca khúc Twenty Flight Rock của Eddie Cochran. John khi đó chỉ biết chơi guitar ở trình độ sơ đẳng và không thuộc hết lời các ca khúc rock ‘n’ roll mà anh thường biểu diễn. Chính vì thế, Paul đủ tài năng để lấp những chỗ trống đó trong ban nhạc của anh.

John đã nhận Paul vào nhóm. Nhiều năm sau, John nhớ lại: “Lúc ấy tôi chỉ nghĩ rằng cậu ấy tài năng ngang với mình. Từ trước tới giờ mình vẫn là trụ cột, nếu nhận cậu ấy thì chuyện gì sẽ xảy đến?”.

Hai người bắt đầu cùng nhau sáng tác những bản hát nguyên gốc, chứ không phải hát lại (cover), một bước đi lạ đối với những nghệ sĩ trẻ chưa có tên tuổi thời đó. Ban nhạc của họ về sau đổi tên thành The Beatles. Và chẳng ai nhắc đến The Beatles mà lại không nhắc đến John hay Paul.

Điểm chung của họ không chỉ là về âm nhạc. Mẹ của Paul đã qua đời vì bệnh ung thư chỉ ít lâu trước khi mẹ John cũng qua đời vì một tai nạn giao thông thảm khốc. Hai cậu bé, hoặc hai chàng trai trẻ, có lẽ không hay tâm sự với nhau về những mất mát. Nhưng những trải nghiệm đó khiến họ mạnh mẽ hơn.

3 tháng sau khi họ gặp nhau, Paul lần đầu biểu diễn với tư cách thành viên của The Quarrymen. Người về sau trở thành nhạc sĩ kiêm ca sĩ thành công nhất mọi thời đại, nhưng khi ấy run rẩy trên sân khấu khi chơi một đoạn độc tấu guitar – phần đinh của tiết mục.

Không lâu sau đó, Paul ngại ngùng trình ra trước mặt John lời bài hát đầu tiên anh sáng tác, I Lost My Little Girl. John thích bài hát đó. Được gợi cảm hứng từ cặp nhạc sĩ tri kỷ Jerry Leiber – Mike Stoller, John đề nghị từ nay về sau, mọi ca khúc của hai người sẽ được đề tên “Lennon-McCartney”, bất kể họ có đồng sáng tác hay không. Paul đồng ý.

Trong những ngày đầu của The Beatles, Paul giữ thói quen đề lên mọi bản nhạc mới viết dòng chữ: “Một tác phẩm khác của Lennon-McCartney”. Họ viết nhạc cùng nhau hoặc có thể can thiệp vào mọi tác phẩm của nhau nếu muốn.

Thứ tự “Lennon-McCartney” hay “McCartney-Lennon” về sau cũng gây một vài tranh cãi giữa Paul và Yoko Ono, người vợ thứ hai của John. Nhưng đó là chuyện khi John đã qua đời.

Với tài năng của John và Paul, The Beatles từ những chàng thiếu niên chơi nhạc ở thành phố cảng đã trở thành hiện tượng âm nhạc toàn cầu trong thập niên 1960.

Từ “Beatlemania” (cơn cuồng Beatles) ra đời đã vĩnh viễn tước đi quyền được sống riêng tư của các thành viên ban nhạc, khiến họ mãi mãi thành những biểu tượng, với chuyện về họ đều là huyền thoại, gồm cả chuyện thật và chuyện thêu dệt.

Nhưng thời gian trôi, Lennon-McCartney ngày càng xa nhau ra. Họ bắt đầu viết nên những bài hát có rất ít bóng dáng của người kia trong đó. Một bài vốn là tác phẩm của Lennon-McCartney lại trở thành hit của những nghệ sĩ khác. Bên cạnh đó, Paul còn đề tên giả “Bernard Webb” lên một bài hát (Woman) để thử xem có thành công không. Bài đó vẫn thành công.

Sự khác nhau giữa phong cách sáng tác của John và Paul ngày càng rõ ràng. “Paul như muốn nói: Đến đây và xem biểu diễn nào! Còn tôi nói: Hôm nay tôi vừa đọc báo, thật là buồn” – John ví von. Những người tinh ý dần nhận ra rằng âm nhạc của Paul thường tươi sáng, lạc quan (Ob-La-Di, Ob-La-Da hay Penny Lane), còn John cay đắng, tự vấn (I’m Only Sleeping hay Nowhere Man).

Không phải bao giờ cũng vậy. Paul cũng biết mô tả nỗi buồn sâu sắc (Yesterday) và John cũng biết đến niềm vui đời thường (Good Morning, Good Morning). Nhưng sự nghiệp hậu The Beatles của cả hai cũng phần nào chứng minh nhận định “Paul vui, John buồn” kia là có cơ sở.

Giữa cả hai là cuộc cạnh tranh thân thiện xem bài hát của người nào sáng tác sẽ thành công hơn. Kết quả: thường là các bài hát của Paul. John có hơi ghen tị về chuyện này. “I Am The Walrus (bài hát John viết) chỉ là mặt B của Hello, Goodbye (Paul viết). Có tin được không?” – anh từng nói.

Giữa thập niên 1960, Paul hẹn hò với hàng đống phụ nữ và sống một cuộc sống kiểu ngôi sao nổi tiếng, trong khi John ngoại tình với Yoko Ono khi đang có vợ là Cynthia và muốn bỏ vợ. Paul viết Hey Jude dành tặng Julian, con trai của John và Cynthia, để an ủi cậu bé khi bố mẹ cậu sắp ly dị.

“Này Jude, đừng sợ” – Paul hát. Sau này, một Julian trưởng thành thừa nhận: “Tôi đi chơi với Paul còn nhiều hơn với bố”.

Dù sao, tình bạn của họ vẫn tiếp diễn. Khi John đưa tên Paul vào lời bài hát Glass Onion như một sự tôn vinh, Paul cũng đóng góp rất nhiều cho bản thu ca ngợi tình yêu mới của John là The Ballad Of John And Yoko. Giữa họ, không phải chỉ có tình bạn, mà là anh em hoặc còn hơn thế.

***

Sự tan rã của The Beatles vào năm 1970 đặt dấu chấm hết cho ban nhạc được hâm mộ nhất thế kỷ 20. Nhưng đó cũng là cuộc chia ly dài nhất giữa hai trụ cột của nhóm, John và Paul.
Có nhiều lý do khiến hành trình của ban nhạc ngừng lại, nhưng quan trọng nhất là do cái chết của người quản lý lâu năm Brian Epstein và việc phải thuê một người thay thế. John quả quyết với cả nhóm rằng nhân viên kế toán Allen Klein là lựa chọn đúng đắn, trong khi Paul đặt niềm tin vào bố vợ, ông Lee Eastman.

Cùng lúc đó, Paul buồn bã nhìn nhóm dần tan thành 4 mảnh riêng biệt, và anh là người phải tập hợp họ lại. 4 con người khác biệt, đã mệt mỏi khi phải chơi cùng nhau trong phòng thu hơn một thập kỷ. Khi Paul muốn lên kế hoạch cho một chuyến lưu diễn trở lại, không ai hưởng ứng.

Ringo tạm thời rời nhóm vào năm 1967 và George cũng vậy trong quá trình quay phim Let It Be (1970). Nhưng cương quyết và phũ phàng hơn cả là John. Tháng 9/1969, John rời khỏi một cuộc họp của nhóm với lời tuyên bố: “Tôi không định nói với các anh, nhưng tôi sẽ làm nhóm tan rã. Tôi thấy ổn với việc đó. Cũng giống như ly dị vợ vậy”.

Mọi chuyện không kết thúc nhanh thế, cho đến khi Paul gọi điện cho John và thông báo anh vừa bắt đầu thực hiện một album đơn ca. 3 thành viên còn lại (kể cả John) yêu cầu Paul ngừng dự án này và không ai nói gì về chuyện tan rã. Nhưng vào tháng 4/1970, album đơn ca đầu tay của Paul ra đời, mang tên McCartney. Trong một bài phỏng vấn in kèm trong bản phát hành thêm của đĩa nhạc này, phóng viên đặt câu hỏi: “Anh có ý định làm một album hay một đĩa đơn mới với The Beatles?”. Câu trả lời của Paul là “Không”.

Có thể thấy, John khơi mào sự tan rã với một câu nói, nhưng Paul mới là người đầu tiên dứt áo ra đi.

Hàng năm trời sau đó, John và Paul vẫn không ngừng nói về cách ban nhạc tan rã, hoặc đúng hơn là cuộc “đào thoát” của Paul. Coi Paul là người đầu tiên rời ban nhạc có công bằng không?

John nói: “Tôi thật ngốc khi không làm cái việc mà cậu ta đã làm. Cách đó có thể giúp đĩa hát bán chạy”. Nhưng Paul lên tiếng bảo vệ mình trong hồi ký: “Tôi nghĩ đó chỉ là sự ghen tị mà thôi. Ringo đi đầu tiên, George tiếp theo, rồi John. Tôi là người cuối cùng rời khỏi ban nhạc! Không phải tôi!”.

Trong bài phỏng vấn của John với Rolling Stone năm 1970, anh nói những câu như “chúng tôi chán ngấy việc phải làm nền cho Paul” hay “album đầu tay của Paul là rác rưởi”.

Trong khi John nghĩ rằng toàn bộ album Ram của Paul và người vợ Linda McCartney đều là những ca từ xúc phạm nhắm thẳng vào anh, Paul đã cãi lại. Anh cho rằng thực ra chỉ có 2 câu hát trong bài Too Many People mà thôi. Để đáp lại, John sáng tác bài How Do You Sleep? có ca từ nói xấu Paul, nhưng sau đó anh đính chính là nói về chính mình.

Ai từng có bạn đều hiểu cảm giác hối hận sau khi lâm vào những cuộc cãi vã với người bạn thân nhất. Cảm giác giống như “ước gì mọi chuyện như thế đã không xảy ra”.

John và Paul cũng vậy. Sau khi khi tách nhau ra, hai người hợp tác với nhiều nghệ sĩ khác. Chỉ khi muốn hàn gắn, họ mới bắt đầu hợp tác trở lại với nhau.

Năm 1974, họ thu âm cùng nhau, bên cạnh nhiều ca sĩ khác trong album A Toot and a Snore in ‘74. Nhưng đến tận năm 1992, album này mới được phát hành. Một năm sau, John gần như đã tham gia cùng Paul McCartney & Wings, ban nhạc mới do Paul lập ra, để thu âm album Venus and Mars.

Vào ban đêm, cả hai thường trở về căn hộ của John và cùng nhau xem chương trình truyền hình Saturday Night Live. Cũng chính chương trình nổi tiếng này đã đề nghị trả cho The Beatles 3.000 USD để tái hợp. Cả hai đã xem xét đề nghị này nhưng rồi từ chối vì thấy quá mỏi mệt.

Paul còn lịch lưu diễn và thu âm dày đặc, còn John thì vướng vấn đề cư trú (bị cấm trở về Anh). Cũng vì một người ở Anh, một người ở Mỹ, nên họ ít gặp nhau, nhưng vẫn gọi điện cho nhau thường xuyên.

Chuyện về họ bị tô vẽ quá nhiều, trong khi người ta cứ thích nghe chuyện từ góc độ đau buồn. Người hâm mộ John vẽ Paul thành một kẻ ghen tị với tài năng của John. Còn người hâm mộ Paul thì đổ lỗi cho John vì ban nhạc tan rã. Họ chỉ ra thực tế rằng sự nghiệp đơn ca của Paul vượt xa John về thành công thương mại.

Nhưng thay đổi lớn nhất, đau đớn nhất, là dòng chữ “Lennon-McCartney” hoàn toàn biến mất khỏi các sáng tác từ đó về sau của họ.

Vì hai người quá thân thiết, thường đứng cạnh nhau trong những bức ảnh, người hâm mộ thêu dệt nên cả một câu chuyện lãng mạn rằng họ đã yêu nhau. Nhiều tiểu thuyết tưởng tượng đã được viết dựa trên hướng này.

Mặc dù vậy, cả đời thực lẫn tiểu thuyết đều gặp nhau ở một điểm đau buồn là chuyện của Paul và John không có kết thúc. John qua đời vì bị bắn vào năm 1980, ở tuổi 40. Cái chết đã chia lìa vĩnh viễn 2 người bạn tri kỷ.

Trong tình bạn, những điều từng gây tổn thương thường dễ bị lãng quên, nếu người ta đã tha thứ cho nhau. John và Paul chắc hẳn không khác chúng ta lắm ở điểm này. Khi John mặc chiếc áo có chữ “Tôi yêu Paul”, báo chí đã tò mò chất vấn. Anh chỉ trả lời đơn giản: “Vì tôi yêu Paul”.

Nỗi đau sau tan rã còn kéo dài nhiều năm, nhưng Paul và John thực sự đã hàn gắn lại, vào giữa thập niên 70, khi cả hai đều đã làm cha. “Dù rất buồn bã khi tình bạn lớn tàn lụi và anh ấy bị ám sát, tôi vẫn thấy được an ủi phần nào vì chúng tôi đã hàn gắn lại. Chúng tôi vẫn là bạn tốt” – Paul nói – “Câu chuyện về tình bạn tàn lụi thực sự không quan trọng bằng tầm ảnh hưởng của tình bạn đó với mỗi chúng tôi”.

————–

Mi Ly

Fb Kinh Điển 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s