Team Bái Huyện mạnh cỡ nào mà lật đổ bạo Tần lập nên Hán Triều 400 năm

Untitled

* HẠ HẦU ANH

1

Hạ Hầu Anh vốn là người chăn ngựa đánh xe ở nha môn huyện Bái, rất thân thiết với Lưu Bang – khi đó là một đình trưởng ở huyện Bái. Lưu Bang một lần trêu đùa Hạ Hầu Anh, phải chịu xử tội, Hạ Hầu Anh giúp Lưu Bang giấu tội. Sau đó ông bị giam và chịu phạt đánh mấy trăm trượng.

Hạ Hầu Anh và Tiêu Hà là những người đầu tiên tham gia cùng Lưu Bang khởi sự, là người đánh xe cho Lưu Bang. Ông đánh xe giỏi lại là người gan dạ xông pha trận mạc, nên được ban tước Đằng Công. Khi Hạng Vũ diệt nhà Tần, phong Bái Công Lưu Bang làm Hán Vương. Hán Vương ban tước hầu cho ông, hiệu là Chiêu Bình Hầu, kiêm chức Thái Bộc.

Sau khi Lưu Bang bình định Tam Tần, Hạ Hầu Anh cùng Hán Vương vào Bành Thành. Trận Bành Thành, Lưu Bang bị Hạng Vũ đánh bại, quân Hán thua to, Lưu Bang bỏ chạy, gia quyến thất lạc. Trên đường, Lưu Bang gặp hai con là Lưu Doanh và công chúa Lỗ Nguyên, Hạ Hầu Anh liền đưa hai đứa trẻ theo cùng. Khi quân Sở đuổi sát, Lưu Bang vì quý thiên hạ hơn quý con nên đã ba lần hất hai đứa trẻ xuống xe để xe chạy nhanh hơn, nhưng cả ba lần Hạ Hầu Anh đều xuống xe bế lên đưa đi tiếp. Lưu Bang khi đó vô cùng tức giận, đã muốn giết Anh, nhưng cuối cùng cũng thoát được. Lưu Doanh và công chúa Lỗ Nguyên được đưa về Phong Ấp.

Khi Lưu Bang xưng đế (202 TCN), Hạ Hầu Anh phò Lưu Bang bắt Sở Vương Hàn Tín lập công. Hạ Hầu Anh luôn theo Lưu Bang trong các cuộc bình định sau đó. Lưu Bang chết, Hạ Hầu Anh giữ chức Thái Bộc, theo hầu Hiếu Huệ Đế và Lã Hậu.

*  CHU BỘT

3

Tháng 7 năm 209 TCN, Lưu Bang khởi binh ở Bái huyện, xưng là Bái công. Chu Bột thấy thế bèn đầu quân cùng Lưu Bang. Khi quân của Lưu Bang tiến công vào quận Đãng ,trong số các tướng thì Chu Bột là người đầu tiên lên được thành

Trong chiến dịch bình định Tam Tần, Chu Bột có công tiến chiếm Khúc Nghịch mở đường.

Năm 202 TCN, Lưu Bang xưng đế, lập ra nhà Hán, phong Chu Bột làm Giáng hầu.

Năm 200 TCN, Hàn vương Tín phản Hán theo Hung Nô. Tín thuyết phục Trần Hy làm phản nhà Hán. Hàn vương Tín đánh phá biên giới phía bắc, Trần Hy cũng làm phản ở đất Đại. Lưu Bang cùng Chu Bột mang quân đi đánh Trần Hy. Ông bình định được 17 huyện ở Nhạn Môn, sau đó ông tiến vào Linh Khâu, giết Trần Hy.

Năm 195 TCN, Lưu Bang nghe tin Yên vương Lư Quán khởi binh chống lại nhà Hán bèn cử Chu Bột cùng Phàn Khoái dẫn binh đánh dẹp. Yên vương Quán bỏ chạy sang Hung Nô

Năm 195 TCN, Hán Cao Tổ qua đời, Huệ Đế Lưu Doanh lên nối ngôi, Chu Bột tiếp tục đảm nhận chức thái úy.

Hán Huệ Đế không có con. Lã Thái hậu chọn từ bên ngoài một đứa trẻ rồi mạo xưng là con của Huệ Đế, lập làm thái tử. Năm 188 trước Công nguyên, Huệ Đế chết đứa trẻ đó liền nối ngôi vua, Lã Thái hậu có danh chính ngôn thuận để lâm triều chấp chính. Để củng cố quyền lực của mình, Lã Thái hậu muốn lập người họ Lã lên làm vương liền hỏi ý kiến các đại thần.

Để củng cố quyền lực của mình, Lã Thái hậu muốn lập người họ Lã lên làm vương liền hỏi ý kiến các đại thần. Hữu thừa tướng Vương Lãng vốn là người cương trực, nói:

“Cao hoàng đế đã giết ngựa trắng ăn thề, ai không phải họ Lưu thì không được làm vương”.

Lã Thái hậu nghe nói rất không vui, lại hỏi Tả thừa tướng Trần Bình và thái uý Chu Bột. Trần Bình, Chu Bột nói:

“Cao Tổ bình định thiên hạ, phân phong con em mình làm vương, điều đó rõ ràng là đúng. Nay Thái hậu lâm triều, phong con em mình làm vương, thì sao lại không được”.

Lã Thái hậu sung sướng gật đầu.

Tan buổi chầu, Vương Lãng trách Trần Bình và Chu Bột:

”Khi tuyên thệ trước mặt tiên đế, các ông đều có dự. Thế mà bây giờ các ông lại đi ngược với lời thề. Như vậy thì sao xứng với tiên đế?”

Trần Bình và Chu Bột nói: “Thừa tướng đừng giận, Hôm nay dám tranh luận với Thái hậu giữa triều đình thì chúng tôi không bằng ông; nhưng sau này bảo toàn được thiên hạ của họ Lưu ông sẽ không bằng được chúng tôi.”

Sau đó, Lã Thái hậu lần lượt phong các cháu là Lã Thai, Lã Sản, Lã Lộc, Lã Gia, Lã Thông làm vương, còn trao cho họ nắm quân quyền.

Toàn bộ đại quyền trong triều hầu như đều nằm trong tay họ Lã. Gia tộc của Lã Hậu chiếm hết quyền của họ Lưu, làm nhiều đại thần không phục nhưng đa số chỉ hậm hực không dám nói ra.

Lã Thái hậu chấp chính đến năm thứ tám thì lâm bệnh nặng. Trước khi hết, phong Triệu vương Lã Sản làm tướng quốc, thống lĩnh Nam quân, Lã Lộc làm thượng tướng quân, thống lĩnh Bắc quân, đồng thời dặn dò họ:

“Hiện nay họ Lã nắm quyền, các đại thần đều không phục. Sau khi ta mất các ngươi nhất định phải nắm lấy quân sĩ mà bảo vệ cung đình, không được đi đưa đám, đề phòng có kẻ ám hại”.

Sau khi Lã Thái hậu chết, binh quyền đều nằm trong tay Lã Sản, Lã Lộc. Họ muốn phát động chính biến nhưng chưa dám ra tay. Lưu Chương qua lời vợ, biết được âm mưu của họ Lã, liền cử người báo cho anh là Tề vương Lưu Tương biết, hẹn với Lưu Tường đem quân từ ngoài vào Trường An. Tề Vương Lưu Tường đem quân tiến về phía tây. Lã Sải được tin, liên phái tướng Quán Anh đem quân ra đối phó. Quán Anh đến Huỳnh Dương, bàn bạc với các bộ tướng:

“Họ Lã thống lĩnh đại quân toan chiếm thiên hạ của Họ Lưu. Nếu chúng ta tiến đánh Tề Vương thì chẳng phải là giúp họ Lã làm loạn hay sao? ”

Mọi người quyết định án binh bất động và ngầm thông báo cho Tề vương biết, đề nghị ông ta liên lạc với các chư hầu, đợi thời cơ để cùng khởi binh chống họ Lã. Tề vương nhận được thông báo, cũng tạm thời án binh bất động.

Chu Bột, Trần Bình biết họ Lã muốn làm loạn, toan ra tay trước, nhưng binh quyền còn nắm trong tay họ Lã nên chưa biết làm thế nào. Họ nghĩ tới Lịch Ký, con trai của Lịch Thương là bạn thân của Lã Lộc, liền cử người đến bảo Lịch Ký nói với Lã Lộc:

“Lã Hậu mất rồi, hoàng đế còn ít tuổi. Ngài là Triệu vương, lại cứ ở Trường An nắm quân đội, các đại thần và chư hầu đều nghi ngờ ngài, điều đó rất bất lợi. Nếu ngài giao binh quyền cho thái uý và về đất phong của mình thì quân Tề sẽ rút đi và các đại thần đều an tâm. “

Lã Lộc tin theo lời của Lịch Ký, liên giao Bắc quân cho thái uý Chu Bột nắm. Chu Bột nắm được tướng ấn Bắc quân, liền tới ngay trại Bắc quân, nói các tướng sĩ:

“Ngày nay họ Lã muốn cướp quyền của họ Lưu, các ông xem nên làm thế nào? Ai theo họ Lã thì sắn tay áo bên phải lên, ai theo họ Lưu thì sắn tay áo bên trái lên!”

Tướng sĩ Bắc quân xưa nay đều hướng về họ Lưu, nên vừa nghe lệnh, đã nhất tề sắn tay áo bên trái. Chu Bột đã tiếp quản được Bắc quân, giành được binh quyền từ tay Lã Lộc một cách êm thấm.

Lã Sản chưa biết Bắc quân của Lã Lộc đã rơi vào tay Chu Bột, nên vào cung VỊ ương để chuẩn bị phát động chính biến. Chu Bột phái Chu Hư hầu Lưu Chương dẫn hơn một ngàn quân ập tới, giết được Lã Sản. Tiếp đó, Chu Bột dẫn Bắc quân, tiêu diệt thế lực họ Lã.

Đến lúc đó, các đại thần mới dám mạnh dạn. Họ nói:

“Trước kia, người được Lã Thái hậu đưa lên ngôi vua không phải là con của hoàng thượng (tức Huệ Đế). Ngày nay chúng ta diệt họ Lã, mà vẫn để thái tử giả đó làm hoàng đế, thì lớn lên chẳng vẫn là người họ Lã hay sao? Chi bằng chúng ta chọn trong số chư vương họ Lưu một người hiền minh nhất tôn lên làm hoàng đế”.

Các đại thần bàn bạc và nhận thấy trong số các con của Cao Tổ, có Đại vương (Vương ở đất Đại) Lưu Hằng là người lớn tuổi nhất, lại có phẩm cách tốt nhất, liền phái người tới Đại quận (trị sở nay tại huyện Úy, Hà Bắc), đón Lưu Hằng về Trường An, lập làm hoàng đế. Đó là Hán Văn Đế.

Do sự đề cử của Trần Bình, Văn Đế phong cho Chu Bột làm Hữu thừa tướng nhưng ở địa vị cao nhất, còn Trần Bình làm Tả thừa tướng nhưng chỉ ở ngôi thứ hai. Khi Hán Văn Đế bắt đầu quen với việc triều chính, có hỏi Chu Bột và Trần Bình các việc như một năm xét xử ngục hình bao nhiều người, một năm tiền và thóc xuất nhập bao nhiêu nhưng ông đều không biết được, mà Trần Bình ứng đối trôi chảy trước mặt Văn Đế, được vua khen. Khi ra triều, Chu Bột trách Trần Bình sau không chỉ cho mình biết, nhưng lại bị ông ta hỏi vặn:

” Ông ở địa vị của mình mà lại không biết chức trách của mình sao? Nếu bệ hạ hỏi số người ăn trộm ăn cướp ở Tràng An thì ông định nói liều sao?”.

Cuối cùng ông nhận ra mình không bằng Trần Bình, bèn trả ấn thừa tướng .Tuy nhiên chỉ qua một năm, đến 178 TCN, Trần Bình qua đời, Chu Bột lại được trở về giữ chức thừa tướng.

Càng về sau, Hán Văn Đế càng không còn tin tướng Chu Bột. Chỉ một năm sau khi tái đảm nhận chức tướng, Chu Bột lại bị Văn Đế đuổi về ấp phong. Ông đành phải nghe theo, dâng biểu xin từ chức, về ấp Giáng. Chu Bột không cam tâm, lại sợ bị hãm hại và tỏ ra hống hách, khi gặp quận thủ và quận úy đều bảo gia nhân phải đem theo vũ khí. Ít lâu sau có người tố cáo ông có mưu đồ tạo phản. Hán Văn Đế ra lệnh bắt ông về Trường An xét xử. Chu Bột đã già, không thể tự biện hộ, bèn bị nhốt vào ngục. Trong ngục, ông bị bọn ngục lại đối xử tệ bạc. Ông đã phải ngầm lấy 1000 lạng vàng hối lộ cho cai ngục, cai ngục mới bày kế cho ông, bảo con dâu ông là công chúa nhà Hán (em gái Hán Văn Đế, lấy con trai ông là Chu Thắng) làm chứng, rồi xin Bạc Thái hậu miễn xá cho ông.

Một hôm, Văn Đế lâm triều, Bạc Thái hậu lấy khăn trùm hướng phía Văn Đế mà ném, nói:”Giáng hầu có công với Hoàng đế, suất lĩnh Bắc quân hơn cả vạn người, giúp Hoàng đế lên ngôi. Khi thế khi đó một lòng vì Hoàng đế, không hề mưu phản, thế mà bây giờ một chuyện nhỏ thì lại khép tội ông ta mưu phản sao?!”. Hán Văn Đế hướng đến Thái hậu quỳ nói:”Quan coi ngục đã điều tra xong, lập tức thả ông ta ra ngục”. Sau đó, Giáng hầu phục lại chức vị cũng như phong ấp

Cuối cùng ông thoát khỏi ngục và được trở về ấp Giáng. Nhưng cũng từ đó ông không được trọng dụng nữa.

Năm 169 TCN, Giáng hầu Chu Bột qua đời, thụy hiệu là Giáng Vũ hầu. Tính từ khi theo Lưu Bang khởi nghĩa năm 209 TCN đến khi mất, Chu Bột hoạt động 40 năm, không rõ bao nhiêu tuổi. Con trưởng của ông, Chu Thắng (người lấy công chúa nhà Hán) kế tập tước hầu. Được sáu năm, Chu Thắng phạm tội, tình cảm với công chúa cũng đã rạn nứt nên bị phế bỏ tước vị.

Ít lâu sau, Hán Văn Đế tiếp tục phong cho con trai thứ của ông là Chu Á Phu, đang làm thái thú Hà Nội làm Điều hầu để kế tục ông. Năm 154 TCN, khi bảy nước khởi loạn, Chu Á Phu được lệnh cầm quân đánh dẹp, nhờ chiến thuật xuất sắc đã nhanh chóng đánh bại được các chư hầu, lập được công cho nhà Hán.

*  PHÀN KHOÁI

2

Phàn Khoái là người huyện Bái, đồng hương với Lưu Bang. Nhà nghèo, ông phải làm nghề bán thịt chó. Lưu Bang hay qua lại chỗ ông và trở thành bạn thân của ông. Phàn Khoái có sức khoẻ lại dũng cảm hơn người, luôn đi bên cạnh Lưu Bang. Trong nhiều trận chiến ác liệt, ông đều hăng hái chiến đấu, giết được nhiều địch. Tổng cộng trong cuộc đời chinh chiến, Phàn Khoái chém 176 đầu, bắt sống 288 người; đánh bại 7 đạo quân, hạ 5 thành ấp, bình định 6 quận, 52 huyện, bắt sống 1 thừa tướng và 11 tướng quân

Năm 209 TCN, Trần Thắng khởi nghĩa ở Đại Trạch chống lại nhà Tần, Lưu Bang hưởng ứng, dấy binh ở huyện Bái. Phàn Khoái cùng Tiêu Hà và Tào Tham đi theo Lưu Bang. Ông đứng dưới cờ làm chức xá nhân. Trận đánh với tướng Tần là Tư Mã Ni ở nước Sở, ông một mình chém 15 quân địch, đánh lui quân Tần, được phong làm Quốc đại phu. Trận đánh Thành Dương và thắng Lý Do (con Lý Tư), ông chém được 16 đầu, được phong tước Thượng giám. Sau đó vây đánh Đông Quận, ông chém 14 quân địch, bắt sống 11 người, được phong làm Ngũ đại phu.

Phàn Khoái tham gia đại phá tướng Tần là Dương Hùng đồn trú ở Hy Giám, được phong làm Hiền Thành quân. Năm 206 TCN, Lưu Bang tiến vào Quan Trung, ông xung phong trận, chém 1 đô uý, 10 lính và bắt sống 140 quân Tần.

Theo kế của Phạm Tăng, Hạng Vũ mời Lưu Bang dự Yến Hồng Môn định kể tội chống đối và giết chết. Khi Lưu Bang đến hội, Phàn Khoái và Trương Lương đi theo hộ tống. Đến nơi, ông được lệnh ở ngoài, chỉ có Lưu Bang và Trương Lương vào dự tiệc.

Phạm Tăng thấy Hạng Vũ không quyết đoán giết Lưu Bang, bèn sai Hạng Trang múa gươm làm trò vui để nhân tiện đâm Lưu Bang. Hạng Bá là bạn Trương Lương, không nỡ giết Lưu Bang nên đứng dậy múa gươm che đỡ, nhưng Lưu Bang vẫn gặp nguy. Trương Lương vội ra gọi Phàn Khoái vào cứu.

Phàn Khoái mang kiếm, cắp khiên bước vào cửa viên môn. Vệ sĩ cầm giáo chéo nhau muốn cản không cho vào, ông cầm ngang cái khiên gạt ra, vệ sĩ ngã lăn ra đất. Phàn Khoái liền vào, vén màn đứng, trợn mắt nhìn Hạng Vũ, Hạng Vũ giật mình chống kiếm quỳ nhổm dậy. Khi hỏi ra biết ông là tướng của Lưu Bang, Hạng Vũ liền sai lấy rượu thịt cho ông. Ông đứng ăn uống tại chỗ, một tay vẫn cầm gươm thế thủ rồi nói với Hạng Vũ:

“Vua Tần lòng lang dạ thú giết người nhiều không kể xiết, trị tội người như sợ không kịp. Thiên hạ đều nổi dậy làm phản. Vua Hoài Vương có giao ước với các tướng: “Ai phá được Tần, vào Hàm Dương thì phong vương”. Ngày nay Bái Công là người đầu tiên phá được Tần, vào Hàm Dương, tơ hào không dám phạm, niêm phong các cung thất, đem quân về đóng ở Bá Thượng để chờ đại vương đến. Bái Công sai tướng giữ cửa ải là chỉ để đề phòng bọn trộm cướp ra vào và những việc bất trắc mà thôi. Bái Công khó nhọc mà công to như vậy, nhưng vẫn chưa được phong thưởng gì! Nay đại vương nghe lời bọn tiểu nhân, muốn giết kẻ có công, tức là noi theo đường lối nhà Tần đã mất! Tôi trộm nghĩ đại vương không nên làm như vậy!”

Hạng Vũ chưa biết đáp ra sao, chỉ biết lệnh cho ông ngồi xuống. Một lát, Lưu Bang đứng dậy đi ra ngoài, nhân đó gọi Phàn Khoái ra. Hạng Vũ sai Trần Bình mời Lưu Bang vào. Lưu Bang lo lắng hỏi ông có nên đi khi chưa từ biệt hay không. Phàn Khoái nói:

“Làm việc lớn thì không để ý đến những điều vụn vặt; làm lễ lớn không câu nệ những điều nhỏ. Nay người ta là dao là thớt, ta là cá là thịt, từ biệt làm gì?”

Lưu Bang bèn ra đi. Hai người thừa cơ trốn thoát, nhờ Trương Lương dùng kế biện bạch giữ chân quân Hạng Vũ.

Hán vương phong Phàn Khoái làm liệt hầu, hiệu là Vũ Lâm quân, sau đó ông lại được phong làm Lang trung, theo Lưu Bang tiến vào Hán Trung. Trong 5 năm chiến tranh với Hạng Vũ, Phàn Khoái tiếp tục đi cùng Lưu Bang dự nhiều trận chiến quyết liệt, cuối cùng năm 202 TCN, Lưu Bang diệt được Hạng Vũ lên làm vua, tức là Hán Cao Tổ.

Sau đó, Phàn Khoái giúp Lưu Bang đánh dẹp các chư hầu làm phản. Năm 202 TCN, có tin Yên Vương Tạng Đồ làm phản, Phàn Khoái cầm quân đi đánh Yên, bắt sống Tạng Đồ.

Để thêm tình thân, Lưu Bang gả em gái Lã hậu là Lã Tu cho ông. Ông và Lã Tu sinh ra con trai là Phàn Kháng.

Năm 196 TCN, Trần Hy làm phản ở đất Đại và đất Triệu, ông được lệnh cùng Chu Bột đi đánh. Phàn Khoái dũng cảm lập công, thu phục 27 huyện ở nước Triệu. Nhờ công lao đó ông được phong làm Tả thừa tướng. Chưa diệt được Trần Hy, Phàn Khoái tiếp tục ra trận, đánh bại quân Hung Nô làm viện binh cho Hy ở Hoành Cốc, chém tướng Triệu Ký, bắt sống thừa tướng nước Đại là Phùng Lương cùng các tướng Tôn Phấn và Vương Hoàng. Không lâu sau ông thu phục được 23 huyện ở đất Đại

Năm 196 TCN, Lưu Bang giết các công thần như Bành Việt, Hàn Tín. Hoài Nam vương Anh Bố lo sợ bèn cất quân làm phản. Tình hình nguy cấp, Lưu Bang ốm nằm trong cung, không muốn gặp ai, sai thị vệ canh phòng không cho ai vào. Các đại thần muốn vào xin lệnh đi đánh đều không được. Phàn Khoái sốt ruột không nén được bèn dẫn đầu các quan đẩy cửa cung mà vào chỗ Lưu Bang, thấy Lưu Bang đang gối trên đùi một hoạn quan ngủ. Phàn Khoái tiến lại gần, gào khóc nói:

“Buổi đầu, bệ hạ cùng vi thần khởi binh ở đất Bái, bình định thiên hạ, lúc đó oai dũng biết bao! Nay thiên hạ đã định, bệ hạ lại mệt mỏi đến thế! Bệ hạ bệnh tình trầm trọng, đại thần đều lo sợ, bệ hạ không chịu tiếp kiến chúng thần bàn bạc việc nước, lại chỉ ở riêng với một hoạn quan mà bỏ người trong thiên hạ đi sao? Vả chăng, bệ hạ không thấy gương Triệu Cao làm loạn hay sao?
Lưu Bang nghe ông nói, đành phải ngồi dậy bàn việc đánh Anh Bố. Sau đó Lưu Bang thân chinh đi đánh, dẹp được Anh Bố.”

Tháng 2 năm 195 TCN, có tin Yên vương Lư Quán cũng làm phản. Phàn Khoái được lệnh đi đánh Yên.

Khi ông cầm quân lên đường, có người lại gièm pha với Lưu Bang rằng: “Phàn Khoái cậy công kiêu ngạo, cùng Lã hậu kết bè đảng; nếu bệ hạ chẳng may băng hà, ông ta dứt khoát giúp Lã hậu mà hại Triệu vương Như Ý”.

Lưu Bang vốn thương hoàng tử Như Ý, thấy ông là em rể Lã hậu nên cũng có ý nghi ngờ ông, bèn hạ lệnh cho Thừa tướng Trần Bình đưa Giáng hầu Chu Bột đến bản doanh thay thế Phàn Khoái và xử chém luôn Phàn Khoái tại chỗ.

Trần Bình là người thông minh, khéo cư xử, biết Lưu Bang không còn sống được lâu, và vây cánh Lã hậu rất mạnh nên không làm theo lệnh Lưu Bang, chỉ bãi chức Phàn Khoái và áp giải về Trường An. Khi Phàn Khoái về Trường An thì Lưu Bang đã qua đời. Thái tử Lưu Doanh lên nối ngôi, tức là Hán Huệ Đế. Lã thái hậu nắm quyền chính, tự mình quyết đoán mọi việc. Vì ông là chồng Lã Tu nên được Lã hậu hạ lệnh tha, phục lại chức tước và đất phong cho ông.

Năm 189 TCN, Phàn Khoái ốm nặng rồi mất, không rõ bao nhiêu tuổi.

Năm 180 TCN, Lã Thái hậu qua đời, Trần Bình và Chu Bột ra sức thanh toán gia tộc họ Lã, bản thân Lã Tu bị đánh tới chết, còn con bà là Phàn Khang do là cháu ngoại họ Lã nên cũng bị giết. Sau nhà Hán tìm con người thiếp của Phàn Khoái lên làm Vũ Dương hầu 

* LƯ QUÁN

IO

Lư Quán là người cùng làng với Lưu Bang ở ấp Phong, huyện Bái. Ông sinh cùng ngày, cùng tháng và cùng năm với Lưu Bang và học cùng một trường . Cha Lư Quán và cha Lưu Bang cũng là hai người bạn thân của nhau. Khi hai nhà cùng có con trai ra đời một ngày, người làng đã mang rượu thịt đến mừng. Lớn lên, hai người trở thành bạn thân của nhau.

Lưu Bang làm đình trưởng, nhưng phạm tội thả cho tù nhân bỏ trốn nên phải trốn tránh vào núi Mang Đãng. Lư Quán cùng trốn với Lưu Bang, thường kề cận bên ông.

Tháng bảy âm lịch năm 209 TCN, Trần Thắng và Ngô Quảng khởi nghĩa chống nhà Tần ở làng Đại Trạch. Trần Thắng đánh đến đất Trần xưng hiệu là Trương Sở vương. Lưu Bang nhân cơ hội, bèn cùng Tiêu Hà và Tào Tham khởi nghĩa ở đất Bái để hưởng ứng. Lư Quán đi theo Lưu Bang với tư cách là môn khách.

Là bạn thân của Hán vương, ông được tự do ra vào chỗ ngủ của Hán Vương. Ngay cả các cận thần khác của Lưu Bang, bao gồm Tiêu Hà và Tào Tham, chưa bao giờ nhận được mức độ coi trọng như vậy. Lưu Bang cũng phong Lư Quán làm Trường An hầu và sau đó là Yên vương

*  TÀO THAM

133877770_185146696625093_4632019757577860027_n

Tiêu Hà tuổi già lâm bệnh. Hán Huệ Đế tới thăm và hỏi sau này ai thay thế ông là thích hợp nhất. Tiêu Hà không chịu nói rõ ý kiến, chỉ nói: “Ai hiểu rõ bầy tôi hơn nhà vua nữa?”

Hán Huệ Đế hỏi: “Ngài thấy Tào Tham thế nào?” Tiêu Hà và Tào Tham đều làm lại ở huyện Bái trước kia, đều theo Cao Tổ khởi binh. Quan hệ giữa hai người rất tốt, sau này Tào Tham lập được nhiều chiến công, nhưng ỏ địa vị thấp hơn Tiêu Hà, nên quan hệ có phần kém thân mật hơn trước. Nhưng Tiêu Hà biết Tào Tham là người có tài cai trị, nên khi nghe Huệ Đế hỏi, liền tỏ ý tán thành và nói: “Ý định của bệ hạ rất đúng; Có Tào Tham thay thế, thì tôi chết cũng yên tâm”.

Tào Tham vốn là một võ tưóng. Khi Hán Cao Tổ phong con cả là Lưu Phì làm Tề Vương, liền cử Tào Tham đi theo làm thừa tướng cho Lưu Phì. Lúc đó, chiến tranh vừa kết thúc, Tào Tham đến Tề liền triệu tập hơn một trăm phụ lão và nho sinh, hỏi họ xem nên cai trị trăm họ như thế nào. Mỗi người nói một cách, không biết nên nghe theo ai. Sau Tào Tham nghe nói ờ Tề có một ẩn sĩ nổi tiếng, là Cái Công. Tào Tham liền mòi đến thỉnh giáo. Cái Công là người tin theo học thuyết Hoàng Lão (tức Hoàng Đế và Lão Tử), chủ trương việc cai trị thiên hạ là phải thanh tĩnh vô vi, để dân chúng được sống yên ổn. Tào Tham nghe theo lời Cái Công, gắng sức không làm phiền nhiễu dân chúng. Ông làm thừa tướng ở Tề trong chín năm hơn bảy mươi thành trì ở Tề đều yên.

Tiêu Hà mất, Hán Huệ Đế lập tức gọi Tào Tham về Trường An, phong làm tướng quốc. Tào Tham vẫn vận dụng chính sách thanh tĩnh vô vị, hoàn toàn giữ nguyên mọi luật lệ qui định của Tiêu Hà, không thay đổi chút gì-‘

Một số đại thần thấy Tào Tham dường như không làm gì cả, thì tỏ ra nôn nóng, có người gặp Tào Tham đề xuất ý kiến. Nhưng lần nào họ đến nhà, Tào Tham cũng chỉ mới uống rượu, hễ ai muốn bàn chuyện quốc gia đại sự, Tào Tham đều nói lảng sang chuyện khác, khiến không ai nói được gì. Cuối cùng, khách khứa ai cũng say khướt đi về mà không kịp nói gì cả.

Hán Huệ Đế thấy Tào Tham như thế, thì cho là ông già lão rồi, có ý coi thường và trong lòng cũng thấy không yên.

Con Tào Tham là Tào Truất phục vụ Huệ Đế trong hoàng cung. Huệ Đế dặn dò: “Khi ngươi về nhà tìm cách hỏi cha ngươi rằng: Cao Tổ đã chầu trời, đương kim hoàng thượng thì còn trẻ, mọi việc quốc gia đại sự đều trông cậy vào tướng quốc là cha. Thế mà cha ngày nào cũng uống rượu, không làm việc gì cả. Cứ như thế mãi thì làm sao cai trị được thiên hạ? Xem cha ngươi trả lời ra sao”.

Tào Truất về nhà, theo lời dặn của Huệ Đế, lựa cơ hội hỏi Tào Tham. Tào Tham vừa nghe đã nổi nóng, mắng: “Nhãi ranh như mày thì biết cái gì mà dám lảm nhảm về chuyện quốc gia đại sự! “Nói rồi gọi đầy tớ mang gậy đến đánh cho Tào Truất một trận. Tào Truất không hiểu sao mình bị đánh; cảm thấy oan ức, khi trở về cung, liền than thở với Huệ Đế. Huệ Đế rất không vui.

Hôm sau, khi lâm triều, Huệ Đế nói với Tào Tham: “Lòi Tào Truất nói với tướng quốc, chính là ta bảo hắn nói đấy. Tại sao tướng quốc lại đánh hắn?” Tào Tham nhận tội, rồi nói: “Thần xin phép hỏi bệ hạ, bệ hạ so với Cao Tổ thì ai sáng suốt hơn?” Hán Huệ Đế trả lời: “Điều đó cần gì phải hỏi. Ta Làm sao so sánh được với Cao hoàng đế’*. Tào Tham lại hỏi: “Thế tôi so với Tiêu tướng quốc thì thế nào?” Huệ Đế bật cười trả lời: “Có vẻ không bằng Tiêu tướng quốc”.

Tào Tham nói: “Bệ hạ nói đều rất đúng. Bệ bạ không bằng Cao hoàng đế, tôi không bằng Tiêu tướng quốc. Sau khi bình định thiên hạ, đã định sẵn một loạt qui chương chế độ, chúng ta cứ theo thế mà thực hiện không để sai sót là được, cần gì phải sửa đổi thêm bớt gì nữa”.

Hán Huệ Đế lúc đó mới hiểu rõ ý định của Tào Tham. Tào Tham vận dụng học thuyết Hoàng Lão, làm tướng quốc trong ba năm. Vì lúc đó là sau thòi’ chiến loạn lâu dài, trăm họ cần được yên ổn, biện pháp đó của ông khiến dân chúng được giảm nhẹ đóng góp. Do đó đương thời có người làm ca dao để ca ngợi Tiêu Hà và Tào Tham. Lịch sử gọi sự kiện đó là ”Tiêu quì Tào tùng” (Tiêu Hà định ra qui chương chế độ, còn Tào Tham thì theo đó mà vận dụng).

* TIÊU HÀ

5

Tiêu Hà bắt đầu nghiệp quan trường từ triều đại nhà Tần (221-206 TCN) với chức quan nhỏ. Nhờ biết cách xử lý mọi chuyện rạch ròi và công bằng, nên ông không ngừng được đề bạt lên chức vị cao hơn.

Là đồng hương, Tiêu Hà quen và làm bạn với Lưu Bang từ thời để chỏm. Ông lúc nào cũng hào hiệp trượng nghĩa giúp đỡ Lưu Bang, vốn là viên quan thấp bậc hơn mình thời đó.

Vào cuối nhà Tần, nạn tham nhũng dẫn đến vô số cuộc nổi loạn. Lưu Bang là vị tướng đầu tiên của quân Hàm Dương chinh phục nhà Tần.

Người ta kể rằng khi quân của Lưu Bang tiến vào thành, không giống như tất cả mọi người đều vội vàng cướp vàng và vật phẩm có giá trị khác từ ngân khố triều đình, Tiêu Hà lại cẩn thận thu thập và lưu giữ nhiều văn bản pháp luật, hồ sơ địa lý và nhân khẩu.

Cho đến khi Lưu Bang dành được cơ nghiệp, tài liệu Tiêu Hà lưu giữ lại trở nên vô giá. Chúng chứa thông tin chi tiết về dân số, điều kiện địa phương, đặc điểm của pháo đài, lối đi và những vị trí chiến lược khác.

Tiêu Hà cũng đã có công trong việc thuyết phục người tài phò tá Lưu Bang. Một trong số đó là tướng Hàn Tín, một thiên tài quân sự hiếm có.

Ban đầu khi gia nhập quân Lưu Bang, Hàn Tín chỉ được bổ nhiệm làm viên quan cấp dưỡng của quân đội. Cảm thấy mình không được Lưu Bang trọng dụng, Hàn Tín quyết định rời đi và gia nhập nơi khác, để phát huy tài năng của mình.

Nghe tin, Tiêu Hà vội ngày đêm đuổi theo, cho đến khi thuyết phục được Hàn Tín trở lại, tạo thành điển cố “Tiêu Hà nguyệt hạ truy Hàn Tín”.

Sự kiện Tiêu Hà đuổi theo thuyết phục Hàn Tín đã trở thành điển cố “Tiêu Hà nguyệt hạ truy Hàn Tín” nổi tiếng.

Sau đó điển cố này trở thành câu nói nổi tiếng được dùng để chỉ tình huống cấp bách, cần phải giải quyết ngay lập tức, mà không cần xin phép chính thức.

Lưu Bang đã không được bẩm báo về kế hoạch của Tiêu Hà, do đó cho rằng Tiêu Hà đào ngũ. Khi Tiêu Hà trở lại cùng Hàn Tín, Lưu Bang rất đỗi ngạc nhiên. Trong lòng không hiểu lý do Tiêu Hà lại cố đưa Hàn Tín về, dù rất nhiều binh sĩ khác đào ngũ.

Tiêu Hà mới thưa rằng, ông biết Lưu Bang sẽ không thể thắng trận mà không có sự giúp sức của Hàn Tín. Sau nhiều lần thuyết phục, Lưu Bang nghe lời Tiêu Hà và bổ nhiệm Hàn Tín làm tướng quân.

Dưới sự lãnh đạo của Hàn Tín, quân Lưu Bang thắng nhiều trận, cuối cùng đã có thể thống nhất Trung Hoa, Lưu Bang trở thành hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Hán, gọi là Hán Cao Tổ.

Lưu Bang rất trân trọng lời khuyên của Tiêu Hà, nên khi trở thành hoàng đế, ông ban cho Tiêu Hà uy quyền được đeo gươm và đi giày lúc thượng triều như một vinh dự cao cả.

Ngay khi trở thành hoàng đế, Lưu Bang phải dẫn quân đi dẹp loạn. Lúc trở về kinh thành, ông phong Tiêu Hà làm Thừa tướng, vị trí quyền lực thứ hai trong triều đình, và phân bổ hàng trăm binh lính hộ vệ Tiêu Hà.

Tuy nhiên, Lưu Bang cũng nổi tiếng với tính đa nghi.

Một môn khách của Tiêu Hà cảnh báo rằng Hoàng đế đã đưa Tiêu Hà đến một vị trí cao như vậy, thì cũng sẽ sớm tăng trưởng tâm nghi hoặc, lo sợ ông đe dọa cho uy quyền và ngai vàng của ngài. Bản thân Tiêu Hà cũng hiểu rằng binh sĩ do hoàng đế phái đến là để theo dõi mình. Nhằm làm dịu những nghi ngờ của Lưu Bang và thể hiện lòng trung, Tiêu Hà khiêm tốn từ chối các bổng lộc triều đình.

Tuy nhiên, những nỗ lực của ông không khỏa lấp được sự đố kỵ và nghi ngờ của Lưu Bang bởi uy danh Tiêu Hà vang khắp thiên hạ. Khi Lưu Bang tiếp tục rời kinh dẹp loạn, ông tiếp tục cử người giám sát Tiêu Hà.

Tiêu Hà hiểu rằng không còn lựa chọn nào nên đành thuận theo đề nghị của một môn khách khác, là tự hủy hoại danh tiếng bản thân, bằng cách chiếm giữ đất đai của bá tánh. Trớ trêu thay, Tiêu Hà được mến mộ đến nỗi người dân rất vui mừng khi ông lấy đất của họ.

Uy danh của Tiêu Hà trong thiên hạ lớn đến nổi ông muốn tự bôi nhọ bản thân cũng không thành.

Biết chuyện, sự đố kỵ của Lưu Bang càng tăng lên. Vì vậy, khi Tiêu Hà đề xuất Lưu Bang cho phép lấy đất hoang trong vườn thượng uyển để dân nghèo khai khẩn canh tác, Hoàng đế giận dữ bác bỏ và bắt giam Tiêu Hà với tội danh nhận hối lộ và bán đất quốc gia.

Một vị tướng đã xin yết kiến Lưu Bang để tìm hiểu tường tận tình huống của Tiêu Hà. Lưu Bang khẳng định Tiêu Hà đã bắt tay với các thương nhân tham lam, nhận quà biếu và cố gắng chiếm đoạt đất của dân. Sau đó, nhà vua nhận định Tiêu Hà là một thừa tướng tham nhũng, xứng đáng với án chung thân.

Viên tướng can gián: “Khi quân vương đi chinh chiến, Thừa tướng đã tận lực quán xuyến việc triều chính. Nếu nảy sinh cuồng vọng, ông ta đã có khá nhiều cơ hội nhưng đều không ra tay”.

“Điều này đã tỏ rõ lòng trung thành với bệ hạ, vậy hà cớ gì ông ta lại tham lam chút lợi lộc nhỏ nhoi ấy. Tất cả những lời buộc tội hoàn toàn không đúng sự thật”.

Lưu Bang không có lý lẽ phản bác, nên đành miễn cưỡng tha Tiêu Hà.

Với cương vị Thừa tướng, Tiêu Hà cũng đã sửa đổi nhiều điều luật khắc nghiệt từ thời nhà Tần, tạo ra Cửu Chương Luật, một bộ luật mới có chín chương. Trong đó bao gồm ‘hộ khẩu’ phổ biến trong hệ thống thuế và nghĩa vụ quân sự.

NGOÀI RA TEAM NÀY CÒN CÓ

 * TRẦN BÌNH

4

 Người ta quen đề cao “Hán sơ tam kiệt” của Lưu Bang nhưng quên mất một điều rằng dưới trướng tay lãnh tụ xuất thân tầm thường kia còn có một mưu sĩ xuất chúng khác là Trần Bình.

 Kế bắt giết Hàn Tín, Anh Bố, Bành Việt đều do Trần Bình bày.

 Người đời có câu: “Bày mưu ngang Phạm Lãi, Lập mẹo tựa Trần Bình”. Mưu mẹo của Trần Bình là loại quỷ kế chính trị, nội chính cung đình, cực kì tàn nhẫn và âm hiểm. Trần Bình theo Đạo gia, làm Thừa tướng Hán triều trải qua ba đời vua mà không vướng vào bất cứ cuộc “điểu tận cung tàng” nào.

 Sinh thời Trần Bình nói rằng: “Ta nhiều âm mưu, trong Đạo gia kiêng kỵ điều đó. Phú quý mà ta có, hết đời ta là thôi, đời sau không thể hưng khởi được nữa, đó là vì ta nhiều âm báo”. Cho tới đời cháu là Trần Hà phạm tội cướp vợ kẻ khác, bị chém giữa chợ. Rồi sau này đúng như lời tiên cảm của bản thân, gia tộc Trần Bình không còn nhân vật nào kiệt xuất nữa.

* TRƯƠNG NHĨ

 
3
 

Trương Nhĩ, lúc nhỏ làm tân khách ở nhà công tử nước Ngụy là Vô Kỵ. Trương Nhĩ có lần trốn đi chơi Ngoại Hoàng. Ở Ngoại Hoàng có người con gái nhà giàu rất đẹp, lấy một người chồng đầy tớ tầm thường. Liền trốn chồng về nhà người khách của cha. Người khách của cha cô vốn biết Trương Nhĩ, bèn nói với người con gái:

– Nếu cô muốn tìm người chồng tài giỏi thì hãy theo Trương Nhĩ!

Người con gái nghe theo. Sau đó người khách của cha cô ta bèn giúp cô ta bỏ đứt chồng và lấy Trương Nhĩ. Trương Nhĩ bây giờ thoát khỏi cảnh nghèo, đi chơi. Nhà người con gái đối đãi chu cấp cho Trương Nhĩ rất hậu. Trương Nhĩ nhờ thế có thể làm cho khách ở xa ngàn dặm đến nhà. Ông bèn làm quan lệnh ở Ngoại Hoàng danh tiếng từ đó càng nổi.

Khi nhà Tần diệt Đại Lương thì nhà Trương Nhĩ ở Ngoại Hoàng. Cao Tổ lúc còn là kẻ áo vải thường hay đến làm du khách ở nhà Trương Nhĩ, ở đấy mấy tháng. Khi nhà Tần đã diệt được nước Ngụy mấy năm, nghe tin hai người này là hai danh sĩ ở Ngụy, bèn trao giải thưởng người nào bắt được Trương Nhĩ thì thưởng ngàn lạng vàng, bắt được Trần Dư thì thưởng năm trăm lạng. Trương Nhĩ, Trần Dư đổi tên họ cùng đến Trần làm người giữ cổng làng để kiếm ăn. Hai người cãi nhau, viên lại trong làng đi qua, liền lấy roi đánh Trần Dư. Trần Dư muốn đứng dậy. Trương Nhĩ dẫm vào gót chân bảo Dư cứ chịu đòn đi. Viên lại ra đi,Trương Nhĩ bèn kéo Trần Dư xuống gốc cây dâu mà trách, nói:

– Lúc đầu tôi nói với anh như thế nào? Nay mới bị một cái nhục mà muốn giết viên lại sao?

Trần Dư cho là phải.

Trần Dư cùng Trương Nhĩ tập hợp binh sĩ được vài vạn người. Có người khách nói khuyên ông và Trương Nhĩ:

Hai ông là những người lữ khách muốn giúp Triệu thì khó mà đứng một mình được. Các ông hãy tập hợp con cháu vua Triệu, lấy nghĩa để phò họ thì có thể thành công.

Hai người bèn tìm được Triệu Yết, lập làm Triệu Vương đóng ở Tín Đô. Lý Lương tiến quân đánh Trần Dư. Trần Dư đánh Lý Lương thua to. Lý Lương bỏ chạy về với Chương Hàm.

Năm 208 TCN, tướng Tần là Chương Hàm sau khi đánh tan quân Sở, giết được Hạng Lương ở Định Đào bèn đem binh đến đánh Hàm Đan. Trần Dư và Trương Nhĩ sai dời dân ở đấy đi Hà Nội, san phẳng thành quách. Trương Nhĩ và Triệu Vương Yết chạy vào thành Cự Lộc.

Chương Hàm sai Vương Ly vây thành. Trần Dư đi về phía bắc tập hợp binh sĩ ở Thường Sơn được vài vạn người, đóng quân ở phía Bắc Cự Lộc.

Chương Hàm đóng quân ở phía nam Cự Lộc, trên cánh đồng Nam Cực, xây đường ống đến sông Hà để vận chuyển lương thực cho Vương Ly. Vương Ly binh sĩ và lương thực đều nhiều, đánh Cự Lộc rất gấp. Trong thành Cự Lộc binh ít, lương hết, Trương Nhĩ mấy lần sai người đến bảo Trần Dư tiến quân. Trần Dư tự nghĩ quân của mình ít, không đánh lại được quân Tần nên không dám tiến. Tình hình kéo dài mấy tháng. Trương Nhĩ cả giận, oán Trần Dư, sai thủ hạ là Trương Yêm, Trần Thích đến trách Trần Dư:

Trước kia ta cùng ông làm bạn sống chết cùng có nhau. Nay nhà vua và Nhĩ sớm chiều sẽ chết, thế mà ông cầm quân mấy vạn mà không chịu cứu. Như thế làm sao có thể tin rằng cùng chết với nhau được? Tại sao ông không xông vào quân Tần, cùng nhau chịu chết, như thế ngõ hầu còn có hy vọng cùng sống trong muôn một.

Trần Dư nói:

Tôi tính tiến quân thì cũng không thể cứu được Triệu, mà chỉ mất hết quân. Và lại; sở dĩ Dư này không cùng chết là vì muốn báo thù cho Triệu Vương và Trương Quân. Nay nếu chúng ta cùng chết thì cũng như ném thịt cho hổ đói,phỏng có ích gì?

Trương Yêm, Trần Thích nói:

Tình hình đã gấp lắm rồi, xin lấy việc cùng chết để nêu rõ tín nghĩa, còn biết việc tính toán sau này ra sao nữa!

Trần Dư nói:

Tôi chết thì chỉ vô ích mà thôi, nhưng cũng xin theo như lời ông.

Ông bèn giao cho năm nghìn quân, sai Trương Yêm, Trần Thích thử quân Tần trước. Đạo quân này nhanh chóng bị Vương Ly tiêu diệt, Trương Yêm và Trần Thích tử trận.

Lúc bấy giờ các nước Yên, Tề nghe tin Triệu nguy cấp đều đến cứu. con Trương Nhĩ là Trương Ngao cũng tập hợp binh sĩ đất Đại ở phía bắc được hơn vạn người đến. Tất cả đều xây lũy ở cạnh Trần Dư nhưng vẫn chưa dám đánh Tần.

Năm 207 TCN, Hạng Vũ cầm đầu quân Sở đi cứu Triệu. Quân Sở mấy lần cắt đứt đường ống vận lương của Chương Hàm cho Vương Ly. Quân của Vương Ly thiếu ăn. Hạng Vũ đem tất cả binh sĩ vượt sông Hoàng Hà và phá tan quân Vương Ly, cầm tù được Vương Ly, còn Thiệp Nhàn tự sát. Chương Hàm bèn đem binh chạy. Nhờ vậy Triệu Vương Yết và Trương Nhĩ mới ra khỏi thành Cự Lộc, cảm tạ chư hầu.

Trương Nhĩ gặp Trần Dư, trách Trần Dư không chịu cứu thành Cự Lộc. Đến khi hỏi Trương Yêm, Trần Thích ở đâu, Trần Dư nổi giận nói:

Trương Yêm, Trần Thích bảo tôi thế nào cũng phải chết, nên tôi sai họ cầm năm nghìn quân để thử sức quân Tần trước. Họ đều chết không thể ra được.

Trương Nhĩ không tin, cho rằng Trần Dư đã giết họ, nên hỏi Trần Dư mấy lần. Trần Dư nổi giận nói:

Tôi không ngờ ông oán giận tôi sâu sắc đến thế. Có phải vì tôi tiếc không dám bỏ chức tướng quân đâu?

Trần Dư bèn cởi ấn trao cho Trương Nhĩ. Trương Nhĩ cũng kinh ngạc không dám nhận. Trần Dư đứng dậy đi ra nhà tiêu, có người khách nói với Trương Nhĩ:

Tôi nghe nói: “Trời cho mà không nhận thì sẽ mang vạ”, nay Trần tướng quân đã trao ấn cho ngài mà ngài không nhận thì trời sẽ bắt mang vạ đấy. Xin ngài nhận ngay đi!

Trương Nhĩ bèn mang ấn, thu bộ hạ của ông. Trần Dư oán Trương Nhĩ trách mình vô cớ và không chịu nhường, bèn rảo bước đi ra. Trương Nhĩ bèn thu quân của Trần Dư.

Trần Dư một mình cùng với vài trăm người trước đây ở dưới cờ vẫn quen thân, đi săn và đánh cá trong cái đầm trên sông Hoàng Hà. Từ đó giữa ông và Trương Nhĩ có sự hiềm khích

Triệu Vương Yết ở lại Tín Đô, Trương Nhĩ theo Hạng Vũ và chư hầu vào Quan Trung tiêu diệt nhà Tần.

Năm 206 TCN, Hạng Vũ lập chư hầu, Trương Nhĩ vốn giao du rộng, nhiều người nói Trương Nhĩ với Hạng Vũ. Hạng Vũ cũng nhiều lần nghe Trương Nhĩ là người tài giỏi bèn chia đất Triệu, phong Trương Nhĩ làm Thường Sơn Vương, cai trị ở Tín Đô. Nhiều người khách của Trương Nhĩ nói với Hạng Vũ:

Trần Dư và Trương Nhĩ hai người như một, đều có công ở đất Triệu.

Hạng Vũ thấy Trần Dư không theo mình vào Quan Trung, nghe tin Trần Dư ở huyện Nam Bì, liền phong cho ông ba huyện ở gần Nam Bì và đổi Triệu Vương là Yết đi làm vua ở đất Đại.

Trần Dư càng nổi giận nói:

Trương Nhĩ và ta công lao như nhau, nay Trương Nhĩ làm vua, mà một mình ta làm hầu, như thế là Hạng Vũ không công bình!

Nghe tin vua Tề là Điền Vinh phản lại nước Sở, Trần Dư bèn sai Hạ Duyệt đến nói với Điền Vinh:

Hạng Vũ là người cầm đầu thiên hạ nhưng không công bình, phong các tướng của mình ở những nơi tốt, còn dời vua cũ thì đi làm vua ở nơi đất xấu. Nay vua Triệu lại ở đất Đại, xin nhà vua cho tôi quân, tôi xin lấy huyện Nam Bì để làm hàng rào che chở cho nhà vua.

Điền Vinh muốn lập vây cánh ở Triệu để phản lại Sở bèn sai đem binh cho Trần Dư. Trần Dư nhân đấy đem tất cả quân ba huyện đánh úp Thường Sơn Vương Trương Nhĩ.

Trương Nhĩ bị thua bỏ chạy, về hàng Hán Vương Lưu Bang – lúc đó đã đánh chiếm được Tam Tần, đang vây Chương Hàm ở Phế Khâu.

Sau khi đã đánh bại Trương Nhĩ, Trần Dư bèn thu lại đất Triệu, đón Triệu Vương ở Đại về làm Triệu Vương như cũ. Để tỏ lòng biết ơn Trần Dư, Triệu Vương lập Dư làm vương đất Đại. Trần Dư cho rằng Triệu Vương yếu, nước Triệu lại mới bình định nên không về nước của mình ở lại giúp Triệu Vương, và sai Hạ Duyệt làm tướng quốc giữ đất Đại.

Năm 205 TCN, Hán Vương Lưu Bang đi về hướng đông đánh Sở, sai sứ giả nói với Triệu, muốn cùng Triệu đi về đông. Trần Dư căm ghét Trương Nhĩ nên nói với Hán vương:

“Hán Vương có giết Trương Nhĩ thì tôi mới theo.”

Hán Vương bèn tìm người giống Trương Nhĩ, chém và mang đầu đưa đến cho Trần Dư. Trần Dư bèn đem binh giúp Hán. Sau đó quân Hán bị quân Sở đánh cho thua to ở phía tây Bành Thành, Trần Dư lại biết tin Trương Nhĩ chưa chết nên phản lại nhà Hán theo Sở.

Cuối năm 205 TCN, sau khi Hàn Tín đã bình định nước Ngụy, Lưu Bang sai Trương Nhĩ và Hàn Tín đánh nước Triệu. Tháng 9 nhuận năm 205 TCN, Hàn Tín đánh bại nước Đại ở phía bắc, bắt sống tướng quốc Hạ Duyệt ở Ứ Dự và mang quân tiến vào nước Triệu.

Năm 204 TCN, Hàn Tín và Trương Nhĩ cầm quân vài vạn người, đi về phía đông xuống Tỉnh Hình để đánh nước Triệu.

Trần Dư bị tử trận trên sông Chi Thủy, Triệu Vương Yết bị bắt, Lý Tả Xa cũng bị bắt và đầu hàng Hàn Tín.

Hán vương Lưu Bang lập Trương Nhĩ làm Triệu Vương.

Trần Dư và Trương Nhĩ đương thời đều là nhân tài, từng kết nghĩa thân như cha con nhưng tính cách cũng như kết cục của hai người khác hẳn nhau.

Không lâu sau này, con Nhĩ là Ngao, dù làm phò mã nhà Hán vẫn bị Lưu Bang loại trừ khỏi ngôi Triệu vương để lấy ngôi đó phong cho hoàng tử con mình.

*  VƯƠNG LĂNG

947c2ee5be2451373735bc6c5e78022a

Vương Lăng vốn là một người quyền hào trong huyện ở đất Bái. Khi còn hàn vi, Lưu Bang thường coi ông như anh. Vương Lăng ít văn hoa, chuộng khí phách, thích nói thẳng.

Năm 206 TCN, Lưu Bang cầm đầu cánh quân Sở đánh vào kinh đô nhà Tần ở Hàm Dương. Vương Lăng cũng tự mình họp bè đảng mấy nghìn người ở Nam Dương, nhưng không chịu theo Lưu Bang.

Chiến tranh Hán Sở bùng nổ. Năm 205 TCN, Lưu Bang làm Hán vương mang đại quân đánh Hạng Vũ, bấy giờ Vương Lăng mới đem binh theo hàng Hán

Hạng Vũ bắt mẹ Vương Lăng mang vào trong quân doanh để dụ ông hàng. Sứ giả của Vương Lăng đến, Hạng Vũ sai đặt mẹ ông ngồi quay mặt về hướng đông, muốn để dụ ông. Nhưng mẹ ông đâm kiếm tự sát. Hạng Vũ nổi giận nấu mẹ ông.

Vương Lăng theo Lưu Bang diệt Sở bình định thiên hạ. Vì ông không theo Lưu Bang từ đầu, lại chơi thân với Ung Xỉ, mà Ung Xỉ từng có thù với Lưu Bang, nên ông không được trọng dụng, mãi về sau mới được phong là An Quốc hầu.

Thời Hán Huệ Đế, Lã Hậu chấp chính. Năm 189 TCN, tướng quốc Tào Tham chết, An Quốc hầu Vương Lăng được phong làm hữu thừa tướng, Trần Bình làm tả thừa tướng.

Lã hậu muốn lập người nhà họ Lã làm vương, Vương Lăng phản đối, còn Trần Bình nói thuận theo Lã Hậu. Do đó Lã thái hậu giận Vương Lăng, điều làm thái phó không có thực quyền, đổi Trần Bình làm Hữu thừa tướng và cho nhân tình Thẩm Tự Cơ lên làm Tả thừa tướng.

Vương Lăng giận, mượn cớ cáo bệnh xin từ chức thái phó. Ông đóng cửa không vào triều. Năm 182 TCN ông qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi.


Triệu Sơn Hà tổng hợp

 
 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s